mở đầu cho việc hình. thành các quy định chéng lại hành vi này. V oi su phát triển của xã hội tư ban và cuộc đầu tranh giai cap, quyên con người trở thành tru tiên, và buôn bán người bị coi là vì phạm pháp luật. Mặc đủ có quy định và giá tri dao đức nghiêm ngặt, nhưng buôn ban.
người, đặc biệt là mua bán phụ nữ qua biên giới, vẫn diễn ra phổ biển, đặc biệt ở khu. vực Đông Nam Á. Khai niém mua bán phụ nữ qua biên giới chưa được quy định cu thể trong bất kì văn bản pháp luật nao. Tuy nhiên, ta có thé hiểu khái niém nay dua trên khái niệm về mua bán phụ nữ và tội pham xuyên biên giới.
Cũng như khái tiêm mua ban phụ nữ qua biên giới, khái niêm mua bán phụ nữ không được thé hiện cụ thể ma được thể hién ling *Becley Giovagnonivi Amber Văn Schooneveld (2022), “The History of Himuan Trafficking”, The Frodtus Road Ietps:/Ahe exodusroad commhistory-of luman-trafficking/ 10 ghép trong nội dung khái niém mua bán người. Khái niệm buôn bán người lần dau được quy dinh trong Công ước về nô lệ năm 1926 của Hội quốc liên thông qua quy đính về quyền không bị bat giữ làm nô lệ. Day được coi là một trong những quyền được pháp điển hóa đầu tiên trên thé giới. Tại khoản2 Điều 1 Của Công ước về nô lệ, khái niém buôn bán người được quy định bao gồm “moi hành vi liên quan đến việc đoạt được, giành được hay chuyển nhượng mét người với mục dich bắt họ làm nỗ lệ: moi hành vi liên quan din việc kiểm được một nỗ lễ dé bản hay trao đôi ho; moi hành vi chuyên nhượng thông qua việc bản hay trao đổi một nỗ lệ có được với mục dich đem ban hoặc trao đổi ho, và nói chung.
mot hành vi buôn ban hay vận chuyển nổ lệ”. Tuyên ngôn thê giới về nhân quyên năm 1948 của Liên hợp quốc đã ghi nhân các quyền cơ ban của cơn người bao gom cả phu nữ tại Điều4 của Công ước này như sau: “Không ai có thé bị bắt làm nỗ lệ hay nỗ dich; chế độ nô lệ và sự mua bán nỗ lệ dưới moi hình thức đều bi cẩm chi” Công ước năm 1949 của Liên Hợp Quốc về trân áp việc buôn người và khai thác (bóc lô) tinh duc người khác, cu thé: buôn bán người là hành vi mua bán phụ nữ vì mục đích mai dâm. Công ước này đã cụ thé hoá khái niém của buôn bán người thông qua đối tượng ma loại tôi phạm này hướng tới chủ yêu là phụ nữ. Bên cạnh Công ước 1949 của Liên hop quốc, khái niệm buôn bán người cũng đã được Đại hội đông Liên Hợp Quốc giải thích cụ thể trong Điều 3 Nghị đính thư về phòng ngừa, trùng trị và trân áp tội buôn bán người, đắc biệt là phụ nữ và tré em (gọi tất là nghị định Palermo) như sau: a) “Buôn bán người" cô nglữa là việc mua ban, vận chuyén, chuyển giao, chưa chấp và nhận người nhằm muc đích bóc lột bằng cách sir ding hay de doa sử dung vii lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gat.
hay lạm dung quyền lực hoặc vi thé dé bi tôn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận dé đạt được sự đôngý của mốt người đang kiêm soát nhimg người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, it nhất. việc bóc lột mại đâm những người khác hay những hình thức béc lột tình duc khác, các hình thức lao động hay phục vu cưỡng bức, nỗ lễ hay những hình thức tương tự nô lễ, khô sai hoặc lẫy các bộ phan cơ thé: +1 b) Sie chấp thun của một nan nhân của việc buôn ban người đối với sự bóc lột có chủ ý: được nêu ra trong khoản (a) của điều này là không thích đảng nễu bat Ip cách thức nào nên trong khoan (a) đã được sử ching. ce) Hiệc mua, vận chuyên chuyển giao.
chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm muc dich bóc lột sẽ bi coi là “buôn ban người” ngay ca khỉ việc nay được thực hién không cẩn dimg đền bat lỳ' cách thức nào được nói đền trong khoản (a) điều này; So với Công ước năm 1949, nghi đính định thu Palermo đã cu thể hóa một cách chỉ tiết hơn các hành vi bị nghiêm cam và déi tương của tôi pham nay. Tinh thân của quy định này đã được đưa vào khoản1 Điêu 150 BLHS năm 2015, sửa đổi, bố sung năm 2017 của Việt Nam như sau: “1. Người nào dimg vii lực, de doa ding vii lực, lừa gạt hoặc bằng thit đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thi bị phat fi từ 05 năm đến 10 năm: a) Chuyễn giao hoặc tiệp nhận người để giao. nhận tiền, tài sản hoặc lot ích vật b) Chuyển giao hoặc tiép nhân người dé bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động lay b6 phân cơ thé của nam nhân hoặc vì mue đích vô nhân đạo khác; e) Tuyến mộ.
vận chuyến, chứa chấp người khác dé thực hiện hành vi quy dinh tại điểm a hoặc diém b khoản nay.” Bộ Luật Hình sự 2015 đã đưa ra yếu tô bắt buộc về cách thức thủ đoạn thực hiên tôi pham "Mua bán người". Theo đó, hành vi phạm tôi phải có một trong các yêu tô như "dùng vũ lực, de doa dùng vũ lực, lừa gat hoặc bang thủ đoan khác". Yéu tô này có vẽ hạn chế và thu hẹp pham vi xử lý tôi pham so với các quy đính trước đó và so với khái tiệm "Buôn bán người" trong Nghị định thư P alermo. Như vậy, có thé đưa re kết luận rằng.
Mua bán phụ nữ là hành vi sử dung vũ lực đe doa sử dụng vũ lực, lừa đối hoặc thủ đoạn khác để tuyển mộ, van chuyển, chứa chap. chuyên giao, tiệp nhận phụ nữ vì đạt được lợi ich vật chat, tiên hành bóc lột tinh duc, cưỡng bức lao đông lay bộ phận cơ thé của nen nhân vì mục đích vô nhiên đao khác Theo quy đính của Công ước về phòng chong tôi pham có tính chat xuyên quốc gia năm 2000 của Liên hợp quốc, một hành vi có tính chất xuyên quốc gia néu “hảnh vi pham tội được thực hiện ở nhiéu quốc gia hoặc được thực hiện ở một quốc gia nhưng phầnchi yếu của việc chuẩn bị, lên kế hoạch. chi dao hay đêu khiển việc thực hiện tội 12 phạm lại dién ra ở một quắc gia khác, hoặc đây là hành vi tôi phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng có liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia thực hiện các hoạt động tôi pham ở nhiều quốc gia, hoặc tôi phạm được thực hiển ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng nghiêm trọng đền một quốc gia kde.“ Tinh chất xuyên quốc gia được thê hiện rat đa dang bang nhiều hình thức trong quy định trên nhung hầu hệt hành vi pham tội đều được thực hiện ở ít nhật hai quốc gia Bên canh yêu tô về lãnh thổ, yêu to về cơ câu tô chức nhóm tôi pham cũng được dé cập tới và dong vai trò không nhỏ trong việc xác định hành vi phạm tôi. Có thé nhên thay, Công ước Palermo đã rat chú trong tới môi quan hệ giữa tính “co tổ chức” và “xuyên quốc gia” của hành vi tội phạm.
Điều nay được thé hiện xuyên suốt toàn thé nội dung pháp lý của Công ước với những giải thích cụ thé? Từ những quy định trên, ta có thé nhận dinh mua bán phụ nữ qua biên giới: Mua bán phụ nữ qua biên giới là hành vi sử dung vũ lực de doa, sử dung vũ lực, lừa đối hoặc thủ đoạn khác để tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, và tiếp nhận phụ nữ với mục đích dat được lợi ích vật chat có tính chất xuyên quốc gia với pham vi không gian và thời gian rộng lớn, liên quan tới ít nhật 2 quốc gia. Hành vi này thường bao gém việc tiên hành bóc lột tinh duc, cưỡng bức lao động, và lây bô phan cơ thé của nan nhân vi mục đích vô nhân đao khac. ĐẶC DIEM CUA MUA BAN PHU NU QUA BIEN GIỚI 1.1 Về nan nhân của una báu phụ nit qua biên giới Co quan chồng ma túy và tội phạm LHQ đã đưa ra khái niệm vé nen nhân trong hướng dan về “Soan thảo Luật chéng buôn người” như sau: “Nan nhân là đối tương bi xâm phạm bởi hành vi mua ban người và được tin tưởng bởi các cơ quan chính phít có thâm quyền hay những té chức phi chính phi: (NGOs) hoạt động trong lĩnh vực phòng chống buôn người rằng ho là nạn nhân của nan buôn người, bắt kế là khi đó thit phạm đã bị phát hiện bắt giữ truy: tô và kết án hay chua”. Trong nhận đính này, dé xác dinh nen nhân bị mua bán cân có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà trước và những tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực này.
Viêc mở rộng yêu tô chủ thể xác định nạn nhân bị mua bán là hợp lý và có cơ sở. Bởi theo yêu câu nêu ở Điều6 khoản 3 Nghi ?PS. Nguyễn Thi Thuận (2018), “Tội pham có to clute xuyên quốc gia vì Công trớc Palermo năm 2000”, Tap chi Lập pháp, but Mapuhay xiVPages/kEttuc hinchitist aspx"tintucid=208308 13 định thư Palermo trong việc xác định nạn nhân bi buôn bán, các cơ quan nha nước phải phối hợp với các tô chức phi chính phủ. Việc kết hợp giữa các bên được cho là sẽ giúp tối đa hóa nguồn lực công tác phòng ngửa và đầu tranh chồng tôi phạm mua bán người.
Sự tham gia của các tô chức phí chính phủ với chuyên môn cao, dày đặn kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp trong các hoạt động PCMBN sẽ giúp dễ dàng phát hiện và tránh được tinh trang bö lọt nạn nhân bị mua bản. Số liệu về tỷ 1é số lương các nhóm nạn nhân bị mua bán từ Báo cáo về MBN năm. 2020 của UNODCtử năm 2004 - 2018 cho thay trong suốt 14 năm, tỷ lệ nạn nhân là phu nữ luôn chiêm ty trọng cao nhật. Giai đoạn tử năm 2004 - 2011 là giai đoạn chứng kiên nhiều biên động của kinh tế - chính trị thé giới vi vậy ma tỷ lệ nạn nhân là plu nữ luôn ở mức cao >50%).
Năm 2003, N ghi định thu Protocol được ký kết, trở thành công cu pháp lý quan trong trong công tác phòng ngừa, dau tranh va đây lùi loại tội phạm nay. Tuy nhiên, tỷ lệ kết án trung bình đã tăng gap ba kể tử năm 2003 cho thay số vụ án mua bán phụ nữ (MBN nói chung) van có xu hưởng gia tăng và diễn biến ngày cảng phức tạp.