CHƯƠNG 1: MOT S6 VAN DE LÝ LUẬN VE PHAN BIET DOI XỬ VỚI NHÓM LGBT TRONG LĨNH VỰC Y TE VÀ PHAP LUAT VE CHÓNG PHAN BIET DOI XỬ VỚI NHÓM LGBT TRONG LĨNH VỰC Y TE 1. Một so van đề lý luận về phân biệt đối xử với nhóm LGBT trong lĩnh vực y tế 1. Khai iệm về phân biệt đối xí và phan biệt đối xữ với uhóm LGBT trơug Tinh vực y té 1.111 Khải niệm về phân biệt đối xir PBĐX dưới hình thức nay hay hình thức khác luôn là van dé nay sinh ngay từ thuở ban dau của nhân loại. PBĐX xây ra trong đời sống hàng ngày, đặc biệt đối với các nhóm đối tượng yêu thé như những người đồng tinh, song tính và chuyển gai.
Vay PBĐX là g? Theo từ điển Tiếng Việt, “phẩm biệt” được hiểu là nhận, biết được sự khác nhau, căn cứ vào đặc điểm, tính chết. Con “đối xứ” là thé hiện thái đô, quan hệ với người nào đó, thường là người dưới hoặc ngang hàng bằng những hành động cuthé.! Theo đó, PBĐX dưới góc đô thuật ngữ thi được hiểu là sự nhận biết về sư khác biệt căn cứ vào các đặc điểm, tinh chat tao nên bat bình. đẳng trong cách đôi xử đối với một cá nhân hay một nhóm người nhật định nhằm phủ nhan hoặc từ chối các quyên công bằng vên có và sự bảo vệ các quyền đó, ha thập nihân phẩm con người. Trong các văn kiện quốc té về quyên con người, quyên không bị PBĐX đã được dé cập trực tiếp hoặc gián tiếp, được khẳng đính nhy một trong các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tê về quyên con người.
Trong bình luận chung số 18 của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (HRC), thuật ngữ này được hiểu là “bat kỳ sự phẩm biệt loại bỏ. hạn chế hay thiên vi nào thực hiện dựa trên bắt ip yẫu tô nào như chưng tộc, màu da, giới tính (.) hay các vi thế kháe, mà có muc đích hoặc có tác động làm vô hiệu hóa hay làm stp' giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyển và tự do của tat cả moi người trên cơ sở bình đẳng” ? Hay một định nghĩa khác về PBDX khá rõ rang và cụthể, được nêu tại Điều 1.a Công ước số 111 của Tô chức Lao động quốc té (ILO), xác đình PBĐX gồm: “Bat kì sư phản biệt loại trừ hoặc un đấi nào dua rên chimg tộc, màn da, giới tinh (.) mà có ảnh hướng làm cho vô hiệu hoặc suy ` Hoing Phê (2003), “Từ điển Tiếng Vit”. ` Ủy ban HRC (1989), “Binh tuận cung số 19: Khong phân biệt đối xứ”, dom T T yếu sự bình đẳng về cơ hội hoặc đối xử trong việc làm hoặc nghề nghiệp ˆ. Có thể thây rằng, định nghĩa về PBĐX của cả HRC và ILO đều mang ba đặc điểm phổ biến như sau: (1) Những hành đông được xác định có tính PBĐX là những hành vi mang tính loại trừ, hạn chế hay thiên vi, ưu dai; (2) Nguyên nhân của PBDX là các đặc điểm cá nhân nhu chủng tộc, sắc tộc, dong dõi, nguồn gốc dân tộc, mau da, gới tính, tuổi tác, su toàn vẹn về thé chất, (3) Mục đích và hậu quả của sự PBĐX là có tính mục tiêu hoặc anh hưởng dén việc ngăn ngừa nạn nhân thực hiện hoặc thu hưởng các quyền cơn người và quyền tự do cơ ban Thông qua ba đặc điểm trên, có thé hiểu phân biệt đối xử là “vide đối xử không công bằng đối với một cá nhân hoặc một nhóm người dua trên các đặc điểm như giới tính trôi tác, dân tốc, tôn giáo, ngôn gốc dân tộc, sắc tộc, tinh dục, nguồn gốc xã hội hoặc bat b+ đặc điểm cá nhãn hoặc nhóm nào khác ”.
PBĐX có thé xây ra trong nhiéu linh vực của cuộc song bao gầm tuyén dung, giáo dục, nhà ở, y tê, dich vụ công cộng lĩnh vực kinh doanh, quảng cáo, hệ thông pháp luật và quyên lợi xã hội. nay có thé dẫn dén sự bat công hạn chê quyền và cơ hội, gây tốn thương tinh thân và vật chat cho nhiing người bị PBĐX 1. Khải niệm về phân biệt đối xix với nhóm LGBT trong lĩnh vựcy tế Trong xã hội xét về giới, những người đông tính, song tính và chuyên giới liên quan đến một khái niém khác gọi là XHTD và BDG. Khi đề cập đến việc cá nhân nảo là người đông tính, song tinh có nghĩa là đang đề cập din XHTD của họ.
nghiia của Hiệp hội Tâm lý Hoa Ky, XHTD là một sự hap dẫn có tính bên vững về mặt cảm xúc hoặc về mat tinh đục của một người về phía những người khác giới (di tink), cùng giới (đồng tính) hay cả hai giới (song tính) ` N gười đồng tính, song tinh liên quan đến khái niém KHTD, còn người chuyên giới liên quan đến khái niém BDG. Theo đó, BDG được hiểu là “vide một người tự nhận mình mang một giới tinh nào, có thé giống hoặc khác với giới tinh sinh học kit được sinh ra” ®Lưu ý rằng không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới mới được xem là người chuyển giới Thông qua khái miệm về XHTD va BDG, có thé hiểu rằng công đồng LGBT là cộng đông của những người có XHTD cũng như BDG khác với XHTD và BDG ` “Understanding sexual orientation and homosexuality”, https Jim apa org/topic sfigbta/orientation , ray cập ngày 18/1/2024. “American Psychological Association (2021), “APA Giddelbw: for Psychological Practice with Sexual Minority Persons”, pp. thông thường Nhóm LGBT bao gồm đồng tinh nữ (Lesbian), đồng tính nam (Gay), song tinh (Bisexual), chuyên giới (Transgender).
Bởi đặc điểm nay ma moi người có những định kiến cho rang đó là trái với tự nhiên, trái với thuận phong mjtục, trái với luân thường đạo lý, khién cho ho coi những cá nhân hoặc nhóm LGBT là thập kém, ho không coi trong cảm xúc, ý kiên, nhu cầu của nhóm người LGBT, va coi đó là điều bat thường cân phải loại bỏ. Điều này dén dén việc nhóm LGBT thường bị đối xử bat công dựa trên XHTD và BDG của họ trong nhiều lĩnh vực trong đời sông. Bên canh đó, PBĐX liên quan đến LGBT có thé di kèm với các hình thức PBĐX khác như PBĐX dua trên chủng tộc, tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khỏe. Sức khỏe là vên quý nhật của mai người, do đó, moi người đều có cơ hội được bảo vệ, cham sóc và nâng cao sức khỏe, không bị thiệt thoi vì bat kỳ lý do gì.
PBDX trong y tê có thé xảy ra giữa nhiêu bên, song trong phạm vi bai nghiên cứu, quan hệ PBĐX sẽ xảy ra trong trường hợp những người sử dung dich vụ y té là những người thuộc nhóm LGBT với các nhà cung cấp dich vụ y tế và NVYT. Trong quan hệ pháp luật y tế, người sử dụng dịch vụ luôn ở vào thể yếu, phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin, kién thức, kỹ năng chuyên môn và đạo đức của người hành nghệ khám, chữa bệnh. Do đó, họ phải được phải được đối xử bình đẳng trong mdi quan hệ giữa người sử dung địch vu và nhà cung cập dich vụ y tế, người hành nghệ khám, chữa bénh Như vậy, PBĐX đối với nhóm LGBT trong y tế được biểu là “sự đối xữ khác nhau của Nhà nước, của xã hội, đặc biệt la của nhà cung. cấp dich vụy tế, người hành nghề khám, chữa bệnh đối với các doi tương người sử ding dich vụ y tế là người đồng tính song tính chuyến giới do xu hướng tính đục hoặc bản dang giới của ho mà làm phương hai hoặc triệt bỗ sự bình ding trong việc được chăm sóc sức khée cing nÏut tiép cận các dichvuy tế của họ ” 1.
Những hìuh thite phân biệt đối xit với uhóm LGBT trong lĩnh vực y tế Trong lĩnh vực y tế, các cá nhân người LGBT có thể gép phai những rao can dang ké trong việc nhân được dich vu chăm sóc sức khỏe toàn điện và tim kiếm các nhà cung cập địch vụy tế liễu biết về nhu cau của họ. Bên cạnh đó, sự PBĐX liên quan đến nhóm LGBT có thể diễn ra đưới nhiêu hình thức, bao gồm: xét nghiệm HIV bat buộc mà không có sự đông ý hoặc tư van phù hợp; nha cung cấp dich vụ y tế giảm thiểu việc tiệp xúc hoặc chăm sóc bệnh nhân là người LGBT; tri hoãn hoặc từ chối điều trị, yêu câu trả thêm tiên dé chữa tri; cách ly bệnh nhân là người LGBT nhiễm HIV, vi pham quyên riêng tư và bảo mật của bệnh nhân, bao gồm cả việc tiệt lô thông tin cá nhân của bệnh nhân cho người khác ma không được cho phép. Theo bình luận chung của Ủy ban Liên hợp quốc về các quyên kinh tế, xã hôi và văn hóa (CESCR), sựPBĐX có thé là trực tiép hoặc gián tiếp, và cả hai hình thức đổi xử này đều bị cam‘, cụ thê như sau: Thứt nhất, về PBĐX trực tiếp. PBĐX trực tiép xây ra khi một ca nhân nào đó tị doi xử kém thuận lợi và tôi tê hơn những người trong hoàn cảnh tương tư vìXHTD hoặc BDG của ho.
Để xác định đó có phải là PBĐX trực tiếp hay không cên đáp ứng ba yêu tổ sau: Một là, thiệt hại có thật. Thiệt hei có thật là những tốn thất thực té do việc PBĐX gây ra đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tin, tải sản của người bi PBDX. Đây là yêu tô dau tiên, đóng vai trò quan trong trong việc xác định có hay không sư PBDX. Dựa theo định nghiia về PBDX, hành vi PBĐX trong y tế sẽ ảnh hưởng dén sức khỏe, tinh mang, tinh thân, làm mat quyên loi được hưởng của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dung dich vụ chim sóc sức khỏe.
Vi dụ, hành vi từ chéi cham sóc người bệnh của một nhà chăm sóc nội trú do XHTD của người bệnh, đã làm anh thưởng đền quyền được chăm sóc sức khỏe của người bénh Họ có thê gap những van đề sức khỏe, tính mạng do không được quan sát, chăm sóc và chữa trị kịp thời nêu có van đề xây ra, thâm chi còn tác động tiêu cực dén tâm lý của người bệnh, gây tram cam. Do đó, nêu không xuất hién yêu to nay thi sẽ không thé coi đó là hành viPBDX. Hai là yêu tô đối sánh Thiét hai nay là kết quả của sự đối xử thiên vị kém hơn so với những người không cùng phân nhóm, nhưng có cùng những đặc điểm hoàn cảnh Đôi tượng so sánhở đây được xác định giữa người sử dụng dịch vụ y tê là LGBT bị cho là bi PBĐX với người sử dung dich vụ y tế khác có hoàn cảnh tương tu.