CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN CUA NGƯỜI CHUYEN DOI GIỚI TINH 1. Khái niệm về chuyên đồi giới tính và bảo vệ quyền của người chuyền doi 1. Khái niệm về chuyển đôi giới tinh Theo quan điểm triết học Mác - Lénin, về bản chat con người là tổng hoa các mi quan hệ xã hội. Do đó, bat cứ ai sóng trong xã hội đều cần phải thông qua các muối quan hệ xã hội với người khác và mdi trường xung quanh dé tên tại.
Mỗi cơn người đều có mong muốn. được thể hién chính minh, được moi người nhận. biết mình để tham gia vào các quan hệ xã hội một cách “bình thường” nhật. Trong đó, mong muôn được biết mình là nem hay nữ, mình thực sự mong muốn là nam hay nữ và mong muốn đó có phủ hợp với cơ thé của mình khi sinh ra hay không cũng là những mong muốn khách quan cùng với sự tên tại của mỗi người.
Tuy nhiên, những mong muốn đó có được thoả man hay được xã hôi công nhận hay không thi đều có những ảnh hưởng nhật định din sưtôn tại và phát triển của méi cá nhân và của cả xã hội. 6 thời kì dau, khi chưa quốc gia nào thừa nhận nhũng giới tính khác ngoài nam va nữ, đã tôn tại những mâu thuần xung quanh đời hỏi của công đông LGBT và nhà nướcÌ Như vay, khái niệm giới đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng phô biển cũng nlxư được nghiên cứu ở đa dang lính vục trong kinh tê và xã hội. Dé có thể u vệ người chuyên giới, việc đề cập đền các khái niém như xu hướng tinh duc và bản dang giới là vô cùng quan trọng dé có thé phân biệt sự khác nhau của các thuật ngữ này, từ đó, có một góc nhìn rõ rang hơn về việc chuyển đổi giới tính. Trước tiên, khái niệm “giới” muốn nói đến vai trỏ của giới nam và giới nữ về mat xã hôi, hành vi, các hoạt động và các đặc tinh của méi một giới (sinh học, tâm lí, xã hộ) ? Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác thì khái niệm “giới” chi sự khác biệt về mat xã hôi giữa nam và nữ, phản ánh đặc điểm quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan dén dia vị xã hội của nam giới và phụ nữ? Nhìn chung, các khái niém đều đề cập đến vai trò và dia vị xã hội của nam va nữ, hay về mat sinh học thì nam có giong nói tram, ôm, tóc ngắn và cơ thé vam vỡ, thi nữ giới sé có những đặc điểm nhu để tóc dai, giong nói trong — cao cũng như có đáng người nhỏ nhắn.
Do đó, có thé ' Nguễn Văn Hợi, ` Kiải niệm đặc điểm vit bản chất của chuyên đổi giới uk. Tạp chi kật học số 1/2019, tr 20. wipe BigentehĐụ họcTraguang * Nguyễn Math Tuấn, `Thuyền at doi T x Vit giớitíht Nam và Vaphip ché Boy ĐI cho người bị ấm khổ về gi, Kiyéa nh aoe Hội thảo Gop ý drthio Lave Ba Noi, Tap Bi cứng Mặt bah ding gi. Nó, Hong Dee Hà Nội2013.
Luật duyin dua vào những tiêu hién bên ngoài về mặt tâm lí, xã hội hay sinh học để có thể xác định và kêt luận nay một cá nhân thuộc giới tính nam hay nữ. Từ những phân tích về khái niệm giới bên trên, việc chuyển đổi giới hay they đổi giới tính từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam, có thé hiểu là chỉ cần thay đổi các biểu hién bên ngoài về mat xã hôi hay mặt sinh học với đặc điểm nhan dang của giới tính nam hoặc nữ. Tuy nhiên, việc thay doi về vẻ bê ngoài hay đắc điểm nhân dang của cá nhân trong xã hội khi cho rằng nlxư vậy đã là chuyển đổi giới tính, sẽ có phan chưa đủ dé thé hiện một người nam chuyên đổi sang giới tính nữ bằng cách nuôi tóc dai, mac đô hay trang điểm một cách trông nữ tính hơn sẽ trở thành người nữ, hay ngược lại, một người nữ muôn chuyên đôi sang giới tính nam chỉ cân cat tóc ngắn, mic đồ hay ha giong thật tram giống nam giới thi sé được coi là một người nam. Để làm được điều nay thì người chuyển giới có thé thực hiên phương pháp điều trị nội tiết tô sinh đục là đủ mà không cân sử dụng đến các phương pháp can thiệp y học.
Từ nhận đính trên, khác với việc tu thay đổi nhận điện bên ngoài đã được cơi là người chuyển giới, ở mét góc đô khác, người chuyển giới được hiểu là người nhiên dang, mong mu6n minh có giới tinh khác với giới tinh sinh học khi sinh ra, có thé không có gì khiêm khuyết về giới tinh! Hay có quan điểm cho rang giới tính thé hiện những đặc điểm sinh học của nam và nữ, có tính chất bam sinh, tự nluên, biên đổi tuân theo quy luật sinh học, gần liên với cá nhân từ khi sinh ra đền khi chết di? Tuy nhiên, việc phân biệt gữa giới tính, xu hướng tinh duc hay bản dạng giới là vô cùng cần thiết, bởi nêu không hiểu rõ sự khác biệt trong bản chat của từng thuật ngữ cũng như đặc điểm giới của con người, sẽ xuất hiện những nham lấn về các dâu hiệu của chuyên đổi giới tinh, cụ thể về xu hướng tính duc và bản dạng giới như sau: xu hướng tính duc là một bón yêu tổ tạo nên tính duc, thé hiên sự hập dẫn có tính bên vững về cảm xúc, tình duc hoặc tinh cảm hướng tới người cùng giới (đồng tính), khác giới (di tính) hay cả hai giới (song tính). Xu hướng tính đục khác với ba câu thanh khác của tính duc bao gôm giới tính sinh hoc (do các yêu tô sinh học quy định), bản dang giới (cảm nhân tâm lý minh là nam hay nữ), và thé hiện giới (su thé hiện và vai 3 Trương Hing Quing, Tin hifu quyền của người đồng tinh, song tíh, chuyin giới và lin giới tinh ở Vit Num. Chishtri quốc gia sirthit, Hà Nội 2017. “Truong Daihox Luật Ha Noi, Tip bài giing bật bìh ding giới Nab.
Hồng Đúc, Hh Nội 2013. trò về nam tính hay nữ tính trong đời sóng). Hành vi tinh đục của một người có thé phần ánh hoặc không phân ánh xu hướng tinh duc của ho.‘ Ban dạng giới khác với xu hướng tinh dục khí đây là một yếu tô trong tính. đục, thể biện qua cảm nhân về giới tính của mình là nam hay nữ.
Ban dang giới không ninật thiết phai trùng với giới tính sinh hoc. Ban dang giới độc lập với xu hướng tính duc vì ban dang giới liên quan tới việc tuột người nghi minh là ai, con xu hướng tinh duc liên quan tới việc một người bị hap dan bởi ai. Thêm nữa, tại Dự thảo Luật chuyền đổi giới tính cũng đã có đính nghĩa về bản dang giới là cảm nhận sâu sắc bên trong và cá nhân của một người về giới của mình là nam hoặc nữ, có thé tương thích hoặc không tương thích với thé chat hoặc giới tính khi sinh của người đó.” Do đó, có thể hiểu nêu một người sinh ra và tự nhận minh mang giới tính giéng với giới tinh sinh học khi được sinh ra, có cảm xúc với người cùng giới tính với minh được gợi là người đồng tính, còn trường hợp có tình cảm với người khác giới tính với minh thì được gọi là người di tính Tuy nhiên, trường hop người này tự nhận minh mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thi đó là người chuyển giới, kế cả khí người đó không nhật thiết phải trải qua phẫu thuật chuyén giới Ê Từ những phân tích trên, dé đảm bảo thông nhật cách hiểu về chuyén đổi giới tính, tác giả đưa ra khái niệm chuyên đổi giới tính theo cách hiểu như sau: “Người chuyên đối giới tinh là người được pháp luật công nhận giới tinh mới sau khi đã thực hiện can thiệp y học khi thay đổi giới tính sinh học hoàn thiện sang giới tính khác phù hợp với nhân điện giới của ho”. Quá trình can thiệp y hoc không chỉ là quá trình.
phẫu thuật nhằm thay đổi bô phận sinh duc mà phải là toàn bô quá trình từ điều trị nội tiết t6 sinh duc dén phẫu thuật ngực, phẫu thuật bộ phân sinh duc dé thay đổi giới tính khác với giới tinh sinh hoc hoàn thién hiện co. Khái niệm về quyền của người chuyển đôi giới tính Dé higuve quyên của người chuyển đổi giới tính, trước tiên, cần liểu về quyên con người. Quyên con người là một phạm trủ vô cùng rộng với nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa sẽ có những cách tiếp cân van đề tử những góc độ nhật định niên việc bao hàm quyên con người trong một định nghia thường là không đủ.
Nhìn ở ` Đam (hình Dương Newiiding thù, ca~ Tong hận các nghiên cửu, Neo. Khoa học See ee 2 ng ie (ung Te Lege Chứnhtrị quốc gia srthit, Hà Noi tea 2017. thik sag thin tin gối rà lên elt Nm. lên 9 góc đô quốc tế, có một sô dinh ngiĩa về quyền con người, chẳng hạn như theo Van phòng Cao uy Liên Hợp Quốc định nghiia về quyên con người như sau: “Qryển con người là những đâm bảo pháp lý toàn cẩu có tác ding bdo về các cả nhân và các nhóm người chồng lại những hành động hoặc sựbỏ mặc làm tôn hai đến nhân phẩm những sư được phép và tự do cơ bản của con người “®.
Liên Hợp Quốc cũng có định nghĩa về quyên cơn người như sau: “ Quyển cơn người là những quyền tư nhiên vốn có của con người, không phân biệt chúng tộc, giới tinh quốc tịch dân tộc, ngôn ngữ: tôn giáo hoặc bắt lỳ tình trạng nào khác. Quyền con người bao gồm quyển sống và tự đo, tự do khôi nỗ lệ và tra tắn, tự do biéu đạt ý kién, quyên được làm việc và hoc hành và nhiều quyên khác nữa. Mọi người đều được hướng những quyển này mà không bị phân biệt đối xiv” G khía cạnh quốc gia, Việt Nam cũng có tổn tại một số định nghĩa về quyền. con người, có tác giả định ngiĩa: “Quyển của cơn người là những gid tri xã hội được cơn người nhận thức, thừa nhận và dần đượcthé chế hóa trong các văn liện quốc tễ về quyển con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện "ÙÀ, hay cũng có quan điểm cho rang quyên con người được hiểu là những nhu câu, lợi ích tự niên, von có và khách quan của cơn người được gl nhận va bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoä thuận pháp lý quốc tế}?