Chương 1: Những lý luận cơ bản về thuế đói với hộ kinh doanh Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh từ thực tiễn t nh Quảng Ngãi Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh từ thực tiễn t nh Quảng Ngãi. 4 CHƢƠNG 1 NH NG L LUẬN CƠ ẢN V THU Đ I VỚI HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm, đ c đi m của thuế đối v i h kinh doanh 1. Khá Hộ kinh doanh - Theo điều 49 nghị định 43/2010/NĐ-CP: 1.
Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, ch được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm b ng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Ủy ban nhân dân t nh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đ i sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.
- Đ c đi m c a hộ kinh doanh: Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân: Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, b i Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với chủ s hữu của nó. Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó.
Cá nhân tạo lập hộ 5 kinh doanh hư ng toàn bộ lợi nhuận sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo qui định của pháp luật và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh. Trường hợp hộ kinh doanh được tạo lập b i hộ gia đình, thì hộ kinh doanh có bản chất là hộ gia đình kinh doanh. Do đó hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân.
Hộ kinh doanh được tạo lập b i một nhóm người cũng không có tư cách pháp nhân. Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh qui mô rất nhỏ: Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh. Điều này gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh và có thể trái với ý chí và khả năng kinh doanh của họ. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp có lẽ chưa tính đến đặc trưng của từng ngành nghề kinh doanh.
Với một cửa hàng cơm bình dân con số người phục vụ có thể lên tới hàng chục với các công việc như nấu ăn, chạy chợ, phục vụ bàn, vệ sinh, trông xe… Hộ kinh doanh theo Nghị định số 88/2006 NĐ- CP ch được tiến hành kinh doanh tại “một địa điểm”. Bản thân cụm từ “một địa điểm” đây cũng cần được giải thích. Nếu “một địa điểm” không phải là một địa phương như xã phường , huyện quận hoặc t nh (thành phố , thì nó có nghĩa là mỗi hộ kinh doanh ch có thể có một cửa hàng hoặc một cơ s sản xuất đặt tại một địa phương nhất định. Ý thứ hai có lẽ phù hợp hơn qui định tại Điều 38, khoản 1 của Nghị định số 88/2006 NĐ- CP.
Các qui định trên thực chất không cho phép hộ kinh doanh m rộng qui mô sản xuất, kinh doanh, hay nói cách khác, hạn chế kinh doanh dưới 6 hình thức hộ kinh doanh. Như vậy quyền tự do kinh doanh phần nào đó có sự hạn chế. Ch hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ c a hộ kinh doanh: Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm b ng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh.
Hộ kinh doanh không có con dấu: Theo điều 49 nghị định 43/2010/NĐ- CP, hộ kinh doanh không sử dụng con dấu. Thuế: Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối c điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp b ng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nh m bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.25] Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại t ng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nh m hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi t chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước.” Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu 7 vực tư sang khu vực công nh m thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.” Theo từ điển tiếng việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các t chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.” Từ các định nghĩa trên ta có th rút ra được một số đ c trưng chung c a thuế là: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng b i các mỗi quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ các đặc trưng trên của thuế , ta có thể nêu lên khái niệm t ng quát về thuế là: “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nh m sử dụng cho mục đích công cộng.” Đ c đi m c a thuế: Thuế có những thuộc tính tương đối n định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Những đặc trưng đó là: Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước. Đặc điểm này cho ta thấy r nội dung kinh tế của thuế là những quan hê tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước.Phân phối mang 8 tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước.
Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định b i quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện b ng pháp luật.
hái niệm: Dựa theo định nghĩa về thuế và hộ kinh doanh, thuế đối với hộ kinh doanh là khoản đóng góp bắt buộc từ các hộ kinh doanh cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nh m sử dụng cho mục đích công cộng. ai tr thuế đối với hộ kinh doanh: T ng thu ng n sách nhà nước: nước ta, số thu b ng thuế hàng năm chiếm t trọng chủ yếu trong t ng thu ngân sách sách. Số thu b ng thuế đối với hộ kinh doanh tuy chiếm t trọng nhỏ trong t ng thu ngân sách nhưng đây là lĩnh vực phức tạp, khó quản lý. Thực hiện vai tr c a Nhà nước đối với khu vực kinh tế nà : Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực.
Song, những vai trò đó không 9 mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người. Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của quản lý thuế.