Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Luận án đƣợc kết cấu thành 4 Chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài. - Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quản lý, sử dụng đất khu công nghiệp, pháp luật về quản lý, sử dụng đất khu công nghiệp. - Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng đất khu công nghiệp từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Chƣơng 4: Hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng đất khu công nghiệp và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai Sử dụng đất và ngƣời sử dụng đất là những khái niệm pháp lý gắn với sở hữu toàn dân về đất đai. Chính chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tạo chế định QSDĐ rất đặc thù, chỉ tồn tại ở một số ít các nƣớc nhƣ Việt Nam, Trung quốc. Không tồn tại chủ sở hữu đất đai nào khác ngoài nhà nƣớc.
Những ngƣời có đất hợp pháp đƣợc coi là ngƣời sử dụng đất. Ngƣời sử dụng đất gắn với loại đất mình sử dụng bằng các quyền và nghĩa vụ đặc thù bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung của những ngƣời sử dụng đất. KCN cũng là ngƣời sử dụng đất song việc sử dụng đất trong KCN có rất nhiều khía cạnh cần đƣợc làm rõ, nhất quản lý và sử dụng đất. Có rất nhiều công trình nghiên cứu chế độ sở hữu toàn dân về đất đai song liên quan đến đề tài luận án thì những công trình sau đây là khá tiêu biểu.
Trần Quốc Toản và những ngƣời khác trong công trình ―Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai. Lý luận và thực tiễn”1 đề cập bản chất, đặc điểm, của việc đổi mới trong quan hệ sở hữu đất đai gắn với sự phát triển nông nghiệp hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Các đồng tác giả của công trình cũng lý giải sự thay đổi, vận động của các quyền trong quan hệ sở hữu đất đai, dẫn đến pháp luật đất đai cũng phải bổ sung, mở rộng các quyền năng của ngƣời sử dụng đất. Sự thay đổi các quyền năng này luôn đặt trong mối quan hệ sở hữu đất đai dựa trên nền tảng là ―Đất đai là sở hữu toàn dân, nhà nƣớc là đại diện chủ sở hữu‖.
Trong luận án tiến sĩ Luật học với đề tài ―Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất”2 Nguyễn Ngọc Minh đã phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất. Tác giả Luận án đã chỉ ra mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất trong mối quan hệ với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu của luận án này cho thấy rõ mối quan hệ giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với chế độ pháp lý về quản lý, sử dụng đất trong đó có KCN vì chủ thể sử dụng đất trong các khu KCN chủ yếu là các tổ chức kinh tế. Trần Quốc Toản (Chủ biên): ―Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn‖, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2013 2 Nguyễn Ngọc Minh, ―Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất‖, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2016 9 Nguyễn Quang Tuyến (2016) trong bài viết ―Vài suy nghĩ về sở hữu toàn dân đối với đất đai‖3 Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 01/2016 đã giải mã nội hàm khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai.
Tác giả bài viết đã khẳng định sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm mang tính chính trị chứ không phải khái niệm mang tính pháp lý. ―Toàn dân‖ không phải là một chủ thể cụ thể nên không thể trở thành một bên trong quan hệ pháp luật đất đai. Tác giả cũng phân tích, đánh giá những thiếu sót, hạn chế trong các quy định của LĐĐ 2013 về quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của nhà nƣớc và vấn đề tham gia giám sát của ngƣời dân đối với nhà nƣớc trong thực hiện quyền đại chủ sở hữu toàn dân về đất đai và đƣa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật đất đai hiện hành. Phạm Hữu Nghị đã công bố công trình ―Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai”4 trong đó tác giả đã phân tích, làm sáng tỏ vai trò của nhà nƣớc với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong việc thực hiện ba quyền năng của chủ sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất đai.
So với các chủ thể khác trong xã hội, việc thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của nhà nƣớc đối với đất đai có sự khác biệt. Điều đó thể hiện ở chỗ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng của nhà nƣớc đối với đất đai mang tính gián tiếp còn quyền định đoạt đối với đất đai là quyền quy định điều kiện, hình thức, trình tự, thủ tục giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển QSDĐ đai cho ngƣời sử dụng đất. Một trong những công trình chứa đựng nhiều góc nhìn chính trị - pháp lý khác nhau về sở hữu đất đai và QSDĐ ở Việt Nam là cuốn sách tham khảo ―Những vấn đề về sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay‖5 do PGS.TS Vũ Văn Phúc chủ biên với nhiều nghiên cứu chuyên đề về quyền sở hữu đất đai ở nƣớc ta của các tác giả khác nhau. Những bài viết trong công trình này cho mang lại những góc nhìn tƣơng đối toàn diện về lịch sử hình thành và phát triển của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, bản chất của sở hữu đất đai gắn với các yếu tố chính trị, kinh tế và đặc biệt là vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai.
Theo các tác giả này, trƣớc năm 1986, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai chƣa đƣợc ghi nhận chính thức trong 3 Nguyễn Quang Tuyến, Vài suy nghĩ về sở hữu toàn dân đối với đất đai‖ Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 01/2016 4 Phạm Hữu Nghị, Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 01/2005 5 PGS.TS Vũ Văn Phúc (Chủ biên), Những vấn đề về sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay, NXB 10 các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và trong các văn kiện của Trung ƣơng Đảng manh nha hình thành quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai. Sau đó, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là phù hợp với điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai chi phối các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất.
NCS sử dụng kết quả nghiên cứu này để phân tích những ảnh hƣởng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đối với nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng đất KCN. Những công trình nêu trên chỉ là một số ít các công trình nghiên cứu về sở hữu đất đai và sở hữu toàn dân về đất đai. Việc lựa chọn các công trình nghiên cứu trên vì trong đó có nhiều phân tích, phát hiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. Các kết quả nghiên cứu ở trong các công trình nêu trên giúp tác giả luận án xác định một số nội dung của luận án về sử dụng đất trong các KCN để tránh lặp lại những những vấn đề đã đƣợc xác nhận diện, phân tích toàn diện từ các góc chính trị học, kinh tế học.
Phải khẳng định rằng sở hữu toàn dân về đất đai có ảnh hƣởng rất lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất KCN nói riêng. Những công trình nghiên cứu về khu công nghiệp và các khía cạnh pháp lý về đất trong khu công nghiệp *Các công trình nghiên cứu về bản chất, đặc trưng của KCN Bản chất của KCN và sở hữu của KCN, đặc biệt là sở hữu đất đai đƣợc nghiên cứu trong khoa học kinh tế, pháp lý của một số quốc gia. Ở Việt Nam địa vị pháp lý, địa vị tài sản của KCN đƣợc quan tâm đặc biệt vì tính đặc thù và những tác động chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đối với ngƣời sử dụng đất, đặc biệt là đối với KCN. Những công trình dƣới đây đƣợc lựa chọn tham khảo trong Luận án do có liên quan đến địa vị pháp lý của KCN.
Trong bài viết: ―Các khu công nghiệp: Những nguyên tắc và thực tiễn‖, tác giả Caj O. Falcke6 đã chỉ ra rằng KCN đã xuất hiện ở các nƣớc công nghiệp phát triển cách đây khoảng một trăm năm. Sự xuất hiện của KCN chủ yếu một phƣơng tiện để thúc đẩy và quản lý sự phát triển công nghiệp và cung cấp cơ sở hạ 6 Caj O.Falcke, Industrial Parks Principles and Practice, Journal of Economic Cooperation Among Islamic Countries 20, 1 (1999) 1-10 11 tầng và dịch vụ cộng đồng với chi phí hiệu quả. Đây có thể đƣợc coi là đặc điểm quan trọng nhất của KCN.
Tác giả khẳng định vai trò của các KCN trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa, nhỏ nhờ giảm chi phí xây dựng hạ tầng, sử dụng các nguồn lực chung, mở rộng khả năng thu hút lao động tại chỗ ở mức độ cao hơn nhiều so với đứng tách riêng, biệt lập. Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân kinh tế, đặc biệt là nhu cầu nâng cao tính cạnh tranh của việc hình thành các KCN. Tác giả cũng chỉ ra rằng các nền kinh tế tập trung chú trọng nhiều hơn các yếu tố hành chính, quản lý của KCN so với các yếu tố kinh tế. Nhóm nghiên cứu Liên ngành về KCN trong tài liệu trong tài liệu ―Hướng dẫn quốc tế đối với Khu công nghiệp”7 đã đƣa ra quan điểm về KCN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.