Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Trên thế giới, hầu hết các nước đều quy định quyền sở hữu tư nhân về đất đai, việc tặng cho quyền sử dụng đất được quy định giống như việc tặng cho các tài sản thông thường khác, không có quy định riêng về chế định tặng cho quyền sử dụng đất. Chính vì vậy, tác giả đã nghiên cứu quy định của một số quốc gia trên thế giới về việc tặng cho tài sản để thấy được những điểm giống nhau, khác nhau, những điểm tiến bộ, khoa học, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về tặng cho tài sản nói chung và quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói riêng. Lý luận chung về hợp đồng tặng cho tài sản 1. Tặng cho tài sản theo quy định tại một số quốc gia trên thế giới * Tặng cho tài sản theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp Điều 893 của Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Một người chỉ có thể định đoạt tài sản của mình mà không yêu cầu đền bù bằng cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc” [6].
Quy định này cho thấy, việc tặng cho tài sản là một phương thức xác lập quyền sở hữu, việc tặng cho được coi như một chứng thư tương tự như di chúc. Điều 894 Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng và bên được tặng cho đồng ý nhận” [6]. Như vậy, Bộ luật Dân sự Pháp quy định tặng cho tài sản là một giao dịch mang tính chất hợp đồng, nó được thể hiện ý chí của hai bên, bên tặng cho đã đoạn tuyệt với tài sản của mình, bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó. Một người đã lập chứng thư tặng cho thì không còn có cơ hội sửa đổi chứng thư đó.
Tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp bắt buộc phải lập thành văn bản, nên tính chất của hợp đồng tặng cho không bao giờ là hợp đồng thực tế, mà luôn luôn là hình thức hợp đồng ưng thuận. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện. Bộ luật Dân sự Pháp quy định việc tặng cho cũng có thể kèm theo các điều kiện đối với bên được tặng cho: 6 “Nếu trong chứng thư tặng cho có các điều kiện không thể thực hiện được, các điều kiện trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì coi như không có các điều kiện đó” - Điều 900 Bộ luật Dân sự Pháp [6]. Đồng thời, “Người được hưởng tài sản theo chứng thư tặng cho có thể yêu cầu Tòa án xem xét lại những điều kiện và nghĩa vụ kèm theo mà họ đã chấp nhận nếu do hoàn cảnh thay đổi việc thực hiện các điều kiện và nghĩa vụ đó trở nên đặc biệt khó khăn hoặc gây thiệt hại cho họ” - Điều 900 Bộ luật Dân sự Pháp [6].
Trước hết, các điều kiện đối với bên được tặng cho trái pháp luật và đạo đức thì không có giá trị thực hiện. Sau đó, các điều kiện này làm ảnh hưởng hoặc gây thiệt hại thì bên được tặng cho có quyền yêu cầu hủy bỏ điều kiện. Về hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Điều 931 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Một chứng thư tặng cho phải được lập trước công chứng viên, theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính.
Nếu không tuân thủ các quy định này, chứng thư tặng cho sẽ vô hiệu”; và “việc tặng cho coi như được hoàn tất ngay sau khi có sự đồng ý của hai bên; quyền sở hữu tài sản tặng cho được chuyển cho người được tặng cho mà không cần phải chuyển giao tài sản trên thực tế” - Điều 938 Bộ luật Dân sự Pháp [6]. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp thì việc tặng cho tài sản bắt buộc phải lập hợp đồng. Do vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản, trùng với thời điểm giao kết hợp đồng, là một hợp đồng ưng thuận tuyệt đối, không cần xác định bên được tặng cho khi nào được nhận tài sản trên thực tế. Về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản.
Bộ luật Dân sự Pháp quy định một quyền đặc biệt trong việc tặng cho tài sản đó là việc người tặng cho tài sản có thể đòi lại tài sản tặng cho trong hai trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất, “Người tặng cho có thể đặt ra quyền được đòi lại vật được tặng cho nếu người được tặng cho chết trước người tặng cho” - Điều 951 Bộ luật Dân sự Pháp [6]. Trường hợp thứ hai, Điều 953 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “việc tặng cho chỉ bị hủy bỏ trong trường hợp các điều kiện kèm theo việc tặng cho không được thực hiện, khi người được tặng cho vô ơn hoặc khi người tặng 7 cho có con” [6]. Đồng thời Điều 955 của Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định việc tặng cho tài sản bị hủy bỏ với lý do vô ơn trong các trường hợp sau: “1. Người được tặng cho đã xâm hại đến tính mạng của người tặng cho; 2.
Người được tặng cho bị kết án về hành vi ngược đãi hoặc xúc phạm nghiêm trọng người tặng cho; 3. Người được tặng cho từ chối cấp dưỡng người tặng cho” [6]. Thời hiệu yêu cầu hủy bỏ việc tặng cho vì lý do vô ơn quy định tại Điều 957 Bộ luật Dân sự pháp quy định là phải được thực hiện trong thời hạn 01 năm kể từ ngày người được tặng cho có hành vi xâm hại người tặng cho hoặc kể từ ngày người tặng cho biết được về hành vi xâm hại đó. * Tặng cho tài sản theo quy định của pháp luật Nhật Bản Bộ luật Dân sự Nhật Bản xác định rõ việc tặng cho tài sản là một loại hợp đồng, hợp đồng tặng cho được ký kết thể hiện ý chí của bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu tài sản mà không lấy một khoản tiền nào của bên được tặng cho và được sự đồng ý của bên đó: “Hợp đồng có hiệu lực, khi một bên tuyên bố chuyển giao không hoàn lại tài sản của mình cho bên kia và bên kia đồng ý nhận nó” - Điều 549 Bộ luật Dân sự Nhật Bản [7].
Đây là một loại hợp đồng đặc thù không có thanh toán và đơn phương, mặc dù việc chuyển giao vật cùng với quyền sở hữu không buộc bên nhận tài sản phải thanh toán giá trị tài sản, thì việc có được tài sản của bên được tặng cho hay việc chuyển giao nó cho người khác của bên tặng cho cũng dẫn đến việc bắt buộc phải ký kết một hợp đồng. Đối với Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ khi tuyên bố, mà không cần xác định bên được tặng cho đã nhận tài sản hay chưa. Điều này cho thấy, hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng là hợp đồng ưng thuận. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện.
Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng quy định hợp đồng tặng cho có điều kiện là việc áp đặt các nghĩa vụ đối với bên được tặng cho. Hợp đồng tặng cho kèm theo nghĩa vụ của người được tặng cho, được pháp luật Nhật Bản xác định là loại hợp đồng song phương, vì nó phát sinh nghĩa vụ của cả đôi bên người tặng cho cũng như người được tặng cho. Điều này quy định tại Điều 553 của Bộ luật Dân sự Nhật Bản đó là: “Các quy định liên quan 8 tới hợp đồng song phương được áp dụng đối với việc tặng cho do bổn phận để bổ sung cho các quy định của mục này” [7]. Quy định này thể hiện việc người được tặng cho thực hiện nghĩa vụ của mình sẽ dẫn đến quyền của người đó đối với việc yêu cầu người tặng cho thực hiện hợp đồng.
Về hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Theo Điều 549 Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì hợp đồng có hiệu lực khi một bên tuyên bố chuyển giao không hoàn lại tài sản của mình cho bên kia và bên kia đồng ý nhận nó, có nghĩa là việc ký kết hợp đồng tặng cho không phải tuân theo hình thức nhất định. Song, nếu việc tặng cho không phải bằng văn bản thì phần nghĩa vụ chưa được thực hiện có thể bị hủy bỏ đối với các bên: “Các bên đều có thể rút lui khỏi hợp đồng tặng cho, nếu hợp đồng này không được lập thành văn bản. Điều này không được áp dụng đối với phần tài sản đã được tặng cho” - Điều 550 Bộ luật Dân sự Nhật Bản [7].
Việc tặng cho không nhất thiết phải lập hợp đồng còn thể hiện ở chỗ, người tặng cho có thể thể hiện ý định bằng văn bản, còn người được tặng cho có thể chấp nhận bằng miệng (không nhất thiết người được tặng cho phải ký vào hợp đồng). Trường hợp hợp đồng tặng cho có hình thức bằng văn bản hay không bằng văn bản thì việc kết thúc thực hiện cũng không bị hủy bỏ. Riêng tặng cho bất động sản, tuy pháp luật không quy định cụ thể buộc phải bằng văn bản nhưng trường hợp tặng cho bất động sản vì liên quan đến thuế, đăng ký, nên coi như hình thành hợp đồng mua bán. Trong trường hợp tặng cho bất động sản thì việc kết thúc thực hiện là việc chuyển giao vật tặng cho.
Về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản. Pháp luật Nhật Bản chia làm hai trường hợp về việc hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng tặng cho theo định kỳ và hợp đồng tặng cho không xác định thời điểm. Cụ thể: “hợp đồng tặng cho theo định kỳ sẽ chấm dứt hiệu lực khi người tặng cho chết” - Điều 552 Bộ luật Dân sự Nhật Bản [7]; Còn đối với hợp đồng tặng cho không được xác định vào một thời gian cụ thể, thì: “Hợp đồng tặng cho có hiệu lực khi người tặng cho chết, được điều chỉnh bằng các quy định liên quan tới tặng cho, di chúc” - Điều 554 Bộ luật Dân sự Nhật Bản [7]. Điều này có nghĩa là hợp đồng tặng cho được ký kết khi người tặng cho còn sống, nhưng hậu quả của hợp đồng phát sinh sau khi người đó chết trở thành trường hợp di tặng.
9 Mặc dù về tính chất nó khác loại tặng cho trong trường hợp di tặng, nhưng được áp dụng về hình thức các điều khoản pháp luật quy định chung cho trường hợp với di tặng.