Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã tại tỉnh Nam Định và giải pháp hoàn thiện 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai tại ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai tại ủy ban nhân dân cấp xã Đất đai không chỉ là tài nguyên quý báu mà còn là cơ sở vật chất quan trọng định hình sự phát triển của một quốc gia. Điều này được thể hiện rõ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khi Hiến pháp quy định rằng: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, phải được quản lý theo quy định pháp luật‟‟.
Luật Đất đai năm 2013 cũng phân chia đất thành ba nhóm chính dựa trên mục đích sử dụng, bao gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Để hiểu rõ hơn về đất đai, Thông tư 14/2012/TT-BTNMT đã đưa ra định nghĩa cụ thể: "Đất đai là một phần của bề mặt trái đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và các thuộc tính ổn định hoặc thay đổi nhất định, ảnh hưởng đến việc sử dụng trong hiện tại và tương lai của tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người" [2]. Qua các giai đoạn phát triển, quy định về đất đai tại Việt Nam cũng trải qua nhiều thay đổi. Ban đầu, đất đai được coi là tài sản của Nhà nước thuộc sở hữu toàn bộ nhân dân theo Hiến pháp năm 1980.
Tuy nhiên, sau này, quy định này đã được cập nhật và duy trì thông qua các phiên bản Hiến pháp năm 1992 và năm 2013. Theo đó, Việt Nam chỉ công nhận một hình thức sở hữu đất đai duy nhất là sở hữu của toàn dân. Sự thay đổi này đã tạo nên một đặc thù riêng biệt cho quan hệ với đất đai tại Việt Nam so với các quốc gia khác trên thế giới. Tại Việt Nam, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất về quản lý đất đai.
Nhà nước thông qua các quyền quyết định trao QSDĐ dưới nhiều hình thức cho các đối tượng có đủ điều kiện nhận QSDĐ. Vì thế đất đai hay 9 cụ thể hơn là QSDĐ đã dần trở thành một loại tài sản đặc biệt, có giá trị lớn, được đưa vào các giao dịch dân sự, có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội nói chung. Do nền kinh tế thị trường phát triển, người dân ngày càng có nhu cầu dịch chuyển QSDĐ cho người khác để tạo ra giá trị vật chất đáp ứng cuộc sống hay thoả mãn giá trị tinh thần, vì thế nhiều ý kiến cho rằng ở Việt Nam tranh chấp đất đai được hiểu là mâu thuẫn, bất đồng về QSDĐ, cụ thể hơn là mâu thuẫn, bất đồng về ai là người có quyền sử dụng đất 2. Tuy nhiên, trên thực tế, tranh chấp đất đai không chỉ là mâu thuẫn, bất đồng về ai là người có quyền sử dụng đất mà còn là những tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất như tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất… Do tranh chấp đất đai xảy ra ngày càng nhiều, nội dung tranh chấp ngày càng đa dạng nên thuật ngữ tranh chấp đất đai cần được giải thích trong các văn bản pháp luật liên quan.
Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, con người cũng cần có sự trao đổi, hợp tác để tương trợ lẫn nhau. Song song với việc trao đổi, hợp tác sẽ không thể tránh khỏi mâu thuẫn, bất đồng về quyền và lợi ích giữa các chủ thể trong mối quan hệ xã hội. Hiện tượng mâu thuẫn, bất đồng này được hầu hết các Từ điển Tiếng Việt giải thích là tranh chấp. Lý do chủ yếu dẫn đến tranh chấp chủ yếu bắt nguồn từ mâu thuẫn, bất đồng về quyền, lợi ích giữa con người với con người trong đời sống hàng ngày.
Vậy nên, một trong những loại tranh chấp xảy ra phổ biến nhất, phức tạp và kéo dài chính là tranh chấp đất đai. Do đó, quy định tranh chấp đất đai được điều chỉnh bởi quy định pháp luật và được sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ từ Luật đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003, năm 2013 và đến nay là Luật Đất đai năm 2024 chuẩn bị có hiệu lực vào 01/8/2024. Dưới góc độ pháp lý, Luật Đất đai năm 1987 hay Luật đất đai năm 2 Phạm Phương Thảo, “Thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai và thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội”, luận văn tốt nghiệp. 10 1993 không cung cấp định nghĩa cụ thể về thuật ngữ "tranh chấp đất đai", tuy nhiên, đến khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, thuật ngữ này đã được giải thích một cách chính thức.
Theo đó, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai 3. Luật Đất đai năm 2024 cũng theo đó tiếp tục giữ nguyên định nghĩa này tại Khoản 47 Điều 3. Với định nghĩa này, phạm vi của tranh chấp đất đai cần phải bao phủ tất cả các mối tranh chấp có thể phát sinh giữa các bên trong quá trình tham gia vào các mối quan hệ pháp lý liên quan đến đất đai. Trong ngữ cảnh này, tranh chấp đất đai có thể bao gồm các loại tranh chấp sau: tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất; tranh chấp về mục đích sử dụng đất.
Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc định rõ và hiểu rõ thuật ngữ tranh chấp đất đai trong việc xác định và giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến đất đai. Hòa giải tranh chấp đất đai là một thuật ngữ được quy định trong các văn bản pháp luật đất đai. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích cụ thể trong các văn bản luật hay văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể về hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai như: tính bắt buộc của hòa giải tranh chấp đất đai, trách nhiệm của chính quyền cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc trong việc thành lập Hội đồng hòa giải, thời hạn, quy trình và thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai và các vấn đề pháp lý khác có liên quan trong quá trình hòa giải… Từ phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm về hòa giải tranh chấp đất đai như sau: Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có đất - bên thứ ba đóng vai trò trung lập nhằm giúp các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp đất đai phù hợp với truyền 3 Khoản 24, Điều 3 Luật Đất Đai năm 2013 11 thống đạo đức xã hội và quy định của pháp luật.
Không giống hình thức thương lượng hoặc tự hòa giải của các bên tranh chấp khi không cần có mặt của bên thứ ba và chúng hoàn toàn không mang tính bắt buộc phải thực hiện mà là sự tự nguyện của các bên thì hòa giải tranh chấp đất đai mang tính chất hoàn toàn khác biệt, đó là có sự góp mặt của bên thứ ba – với vai trò là chủ thể trung gian cho các bên tranh chấp (chủ thể này do pháp luật quy định) để phân tích, giải thích, định hướng và thuyết phục họ vì quyền và lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội mà chấm dứt những mâu thuẫn, bất đồng. Kết quả của việc hòa giải là có sự xác nhận của chủ thể thứ ba và mang tính pháp lý để xác nhận kết quả của việc hòa giải đó. Mặt khác, hòa giải tranh chấp đất đai còn là yêu cầu bắt buộc, được xác nhận là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai khi có tranh chấp đất đai xảy ra. Giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện qua nhiều cơ quan như UBND, TAND và thời gian tới theo Luật Đất đai năm 2024 là cơ quan trọng tài.
Trong các cơ quan trên thì UBND cấp xã là cơ quan gần dân nhất, việc hòa giải tranh chấp đất đai được thực hiện tại UBND cấp xã sẽ giảm áp lực tối đa cho Tòa án, đồng thời tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức của Nhà nước và nhân dân. Còn Tòa án là cơ quan tư pháp, nếu hòa giải không thành tại UBND cấp xã thì các bên có quyền khởi kiện Tòa án. Việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức xét xử thường dẫn đến tình trạng có bên thắng, bên thua, thậm chí có trường hợp cả hai bên đều không hài lòng với kết quả. Ngược lại, khi tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải tại Tòa án, các bên tham gia sẽ hoàn toàn tự nguyện về những giải pháp giải quyết, do đó các nội dung thỏa thuận chính là ý chí của các bên và họ đều mong muốn, hài lòng với kết quả.
Hơn nữa, việc thi hành các nội dung thỏa thuận từ hòa giải thường diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn so với thi hành án, vì các bên đã tự nguyện thực hiện. Như vậy, hòa giải có thể được xem là phương thức giải 12 quyết tranh chấp dân sự tốt nhất, mang lại sự ổn thỏa cho các bên tham gia. Đặc biệt, theo Luật Đất đai năm 2024, các tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai sẽ được giải quyết thông qua hai cơ chế chính: tòa án và trọng tài thương mại Việt Nam. Điều này thể hiện sự nỗ lực của nhà làm luật nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng và hiệu quả để xử lý các tranh chấp đất đai trong bối cảnh phát triển kinh tế và gia tăng các giao dịch thương mại liên quan đến tài sản này.
Luật Đất đai năm 2024 tiếp tục ghi nhận vai trò của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp đất đai.