CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Các khái niệm nền tảng TCĐĐ là một vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay, với sự đa dạng về hình thức và tính chất phức tạp trong giải quyết tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước khuyến khích các bên liên quan tự giải quyết hoặc thông qua các phương tiện hòa giải tại cơ sở. Trong trường hợp các bên chủ thể tranh chấp không thể tự thỏa thuận được, họ có thể nộp đơn, thư tới UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để yêu cầu được hòa giải.
Hiện tại ở UBND cấp xã thụ lý các đơn thư về quyền sử dụng đất là phổ biến nhất. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, tại khoản 2 Điều 3 quy định: “Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202, Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”. Do đó, hòa giải tại cấp xã trở thành bước bắt buộc và là điều kiện tiên quyết trước khi Tòa án xem xét đơn khởi kiện. Việc thực hiện hiệu quả công tác hòa giải tại cấp xã không chỉ giúp hạn chế số lượng vụ việc trình ra Tòa án mà còn đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
Một phần quan trọng của việc đảm bảo hiệu quả của công tác hòa giải tại cấp xã là việc cung cấp nguồn lực đủ và đào tạo đội ngũ nhân viên có chuyên môn và kỹ năng phù hợp. Điều này giúp đảm bảo rằng quy trình hòa giải được thực hiện một cách chính xác và công bằng, đồng thời tăng cường sự tin cậy và sự chấp hành từ các bên tham gia. Ngoài ra, cần xem xét việc điều chỉnh và cải thiện quy trình hòa giải hiện 9 tại để phản ánh đầy đủ những thay đổi trong tình hình xã hội và pháp luật. Cụ thể, việc nghiên cứu và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hòa giải tại cấp xã có thể giúp tối ưu hóa quy trình và tăng cường khả năng giải quyết TCĐĐ một cách hiệu quả.
Khái niệm và đặc điểm tranh chấp đất đai * Khái niệm tranh chấp đất đai dưới góc độ xã hội: Theo “Từ điển tiếng Việt” do Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên xuất bản năm 2000, NXB Đà Nẵng: “Tranh chấp là tranh giành một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào. Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên”. 1024] Theo sách “3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông” do tác giả Nguyễn Ngọc Điệp làm chủ biên, xuất bản năm 2009, NXB Giao thông vận tải: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”.289] Nhìn từ các khái niệm trên, có thể thấy về mặt xã hội, TCĐĐ là một hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội, đó là sự phản ứng có tính tự nhiên của một người đối với hành vi của người khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến các quyền và lợi ích của mình trong vấn đề quản lý, sử dụng đất đai. * Khái niệm tranh chấp đất đai dưới góc độ pháp lý: Luật Đất đai năm 2013 quy định tại khoản 24 Điều 3 và Luật Đất đai năm 2024 quy định tại khoản 47 Điều 3 về khái niệm TCĐĐ như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Theo giáo trình Luật Đất đai - Đại học Luật Hà Nội, khái niệm TCĐĐ như sau: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất 10 đai … các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sự dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai”. Từ các khái niệm trên, ta có thể thấy về góc độ pháp lý có thể hiểu đối tượng của TCĐĐ là các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tức là trong quá trình quản lý và sử dụng đất, người sử dụng đất sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình làm phát sinh tranh chấp với người khác, còn chủ thể của TCĐĐ là người sử dụng đất. Như vây, trên nhiều quan điểm và các góc độ khác nhau thì khái niệm về TCĐĐ được hình thành khác nhau. Như vậy có thể thấy khái niệm TCĐĐ được nêu trong Luật Đất đai là một khái niệm bao hàm, TCĐĐ là những tranh chấp được phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính, mục đích sử dụng đất, tất cả được bao quát một cách đầy đủ và khách quan nhất.
Theo quan điểm của tác giả, khái niệm TCĐĐ là: “Tranh chấp đất đai là sự mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hoặc các lợi ích khác liên quan đến đất đai”. * Đặc điểm tranh chấp đất đai TCĐĐ là một vấn đề nhạy cảm, thường xuyên xảy ra trong đời sống xã hội và đụng chạm đến nhiều vấn đề trong xã hội. Để có cái nhìn khách quan nhất về TCĐĐ, ta có thể nhận biết dựa vào một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể tranh chấp: Chủ thể của TCĐĐ có quyền sử dụng và quyền quản lý đất bao gồm: Cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức. Quyền sử dụng đất của các chủ thể nêu trên được xác định dựa vào quyết định giao, bán, cho thuê đất hoặc sự cho phép, công nhận chuyển nhượng của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng.
Thông thường, trong các quan hệ tranh chấp không phải là TCĐĐ, một trong hai bên 11 có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần đối với đối tượng tranh chấp. Tuy nhiên, trong TCĐĐ, các bên liên quan chỉ có quyền quản lý và sử dụng chứ không có quyền sở hữu. Vì ở nước ta hiện nay, chế độ sở hữu đất đai là chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nước đóng vai trò đại diện sở hữu. Cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất.
Cho nên người sử dụng đất tham gia với tư cách là chủ thể sử dụng đất và chủ thể quản lý đất Thứ hai, đối tượng tranh chấp: Đối tượng chủ yếu trong TCĐĐ là: quyền sử dụng và quyền quản lý đất đai. Chủ thể trong TCĐĐ không có quyền sở hữu đối với loại tài sản đặc biệt này. Đối tượng mà các chủ thể của tranh chấp hướng tới là quyền được sử dụng và quyền quản lý trên một diện tích đất cụ thể, chỉ khi đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng và quyền quản lý đất đai thì mới có thể gọi là TCĐĐ. Thứ ba, nội dung tranh chấp: Nội dung của tranh chấp đất đai ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn.
TCĐĐ không chỉ dừng lại là tranh chấp về quyền sử dụng đất mà còn bao gồm cả những tranh chấp có liên quan như: Chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, … Đất đai được coi là loại hàng hóa đặc biệt có giá trị kinh tế cao, không những thế giá trị của nó thường biến động theo giá cả KTTT cho nên việc quản lý và sử dụng đất đai không chỉ đơn giản là việc khai thác giá trị sử dụng mà nó còn bao gồm cả giá trị sinh lời lãi của đất. Khi công tác quản lý và sử dụng đất trở nên đa dạng và phức tạp thì những mâu thuẫn và bất đồng xung quanh việc này cũng trở nên căng thẳng và trầm trọng hơn. Thứ tư, TCĐĐ luôn liên quan đến quá trình sử dụng đất của các chủ thể nên nó ảnh hưởng không chỉ đến quyền, lợi ích trực tiếp của các bên tham gia quá trình tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước. Vì khi có tranh chấp xảy ra, một bên sẽ không thể thực hiện được các quyền của mình, 12 ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Đất đai có những mục đích sử dụng khác nhau và được phân loại theo mục đích sử dụng và loại đất. Điều này dẫn đến việc tranh chấp về đất đai sẽ bao gồm các bên khác nhau tham gia vào tranh chấp đó. Cho nên, việc giải quyết TCĐĐ cần phải được thực hiện nhanh chóng, tích cực và chủ động để bảo đảm quyền lợi của các bên, tránh tình trạng kéo dài, có tổ chức và quá đông người tham gia. *Các dạng tranh chấp đất đai Trong quan hệ xã hội hiện nay có nhiều trường hợp, các dạng TCĐĐ khác nhau, tùy theo mức độ và lĩnh vực mà có thể gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, tranh chấp hành chính,….