Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẨP DI SẢN THỪA KỂ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Khái niệm, đặc điểm di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Trong quá trình phát triển xã hội loài người qua các giai đoạn, hình thái kinh tế xã hội thì của cải, vật chất có sẵn được con người sử dụng để phục vụ đời sống, sinh hoạt hoặc được con người tạo ra đã mang tính sở hữu.
Tài sản đó có thể thuộc sở hữu chung của cả thị tộc, ộ lạc như trong xã hội cộng sản nguyên thủy hay xuất hiện sự sở hữu riêng của các cá nhân từ giai đoạn chiếm hữu nô lệ… Tài sản đó rất đa dạng, phong phú, có thể là gia súc, lương thực, kim loại quý, đất đai… thậm chí là con người như trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mỗi chế độ xã hội lại có sự hiểu khác nhau về tài sản. Tại Việt Nam hiện nay, tài sản được định nghĩa ởi quy định pháp luật, cụ thể tại Điều 105 BLDS năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Theo quy định này, tài sản có thể là vật, những thực thể vật lý như: động vật, phương tiện giao thông, vàng ạc, đá quý…; là tiền: tiền Việt Nam, ngoại tệ; là giấy tờ có giá: trái phiếu, cổ phiếu, s c… là quyền tài sản: quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ… Với đất đai, pháp luật ở tất cả các quốc gia đều coi đất đai là một loại tài sản, tuy nhiên có quy định khác nhau về chế độ sở hữu, một số nước công nhận sở hữu tư nhân với đất đai, trong khi đó các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa coi đất đai là tư liệu sản xuất, không công nhận sở hữu tư nhân đối với đất đai.
Pháp luật Việt Nam quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định…”. Và quyền sử dụng đất được coi là tài sản theo quy định của pháp luật. Cá nhân, tổ chức có thể dùng tài sản là quyền sử dụng đất để chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn theo quy định pháp luật.
Theo quy luật tự nhiên, cái chết đối với con người là tất yếu sinh học và không thể chống lại, nhu cầu đặt ra xác định chủ thể có quyền đối với các tài sản mà chủ thể sở hữu trước đó đã chết để lại. Thông thường, việc xác định 8 này dựa trên các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng của chủ sở hữu tài sản đã chết. Tuy nhiên, những chủ thể phù hợp với những quan hệ đó không chỉ có một, có thể là nhiều, thậm chí là rất nhiều và việc nảy sinh tranh chấp là khó tránh kh i. Theo từ điển Tiếng Việt, thừa kế là được hưởng cái của người đã chết để lại cho (thường nói về tài sản, của cải).
Như đã phân tích ở trên, quyền sử dụng đất là một loại tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó có thể được thừa kế một cách hợp pháp. Như vậy có thể hiểu về thừa kế quyền sử dụng đất như sau: Thừa kế quyền sử dụng đất là việc cá nhân, tổ chức nhận tài sản là quyền sử dụng đất của người sử dụng đất đã chết để lại, theo sự chỉ định của người sử dụng đất đó hoặc theo quy định của pháp luật. Theo định nghĩa trên, có thể xác định các đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất như sau: Thứ nhất,di sản thừa kế phải là quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất này là tài sản hợp pháp của người để lại di sản nhưng người để lại di sản không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất, người thừa kế cũng chỉ có quyền sử dụng mà không chuyển thành quyền sở hữu đất.
Nhà nước công nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thứ hai,hình thức thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trong đó, di chúc luôn được ưu tiên trước vì nó thể hiện ý chí của người để lại di sản. Trong trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp và các trường hợp đặc iệt khác theo quy định của pháp luật thì mới áp dụng các quy định thừa kế theo pháp luật để phân chia di sản.
Thứ ba, người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, không thể là pháp nhân. Thứ tư, người thừa kế có thể là cá nhân (nếu thừa kế theo pháp luật) nhưng cũng có thể là cá nhân hoặc/và tổ chức (nếu thừa kế theo di chúc). Tại thời điểm mở thừa kế, tổ chức phải còn tồn tại,cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Khác với các tài sản thông thường khác ất kỳ cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể nhận thừa kế, cá nhân thừa kế quyền sử dụng đất phải là người Việt Nam đảm ảo một số quy định đặc thù theo các trường hợp quy định tại 9 pháp luật liên quan về đất đai, nhà ở, xuất nhập cảnh… người Việt Nam không đảm ảo các điều kiện của pháp luật và người nước ngoài sẽ không được thừa kế quyền sử dụng đất dù là theo di chúc hay pháp luật nhưng sẽ được hưởng giá trị phần thừa kế đó.
Khái niệm, đặc điểm của chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại Tòa án. Khái niệm, đặc điểm của chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất có thể hiểu là việc căn cứ nội dung của di chúc hoặc/và quy định thừa kế theo pháp luật để chia di sản thừa kế của người để lại di sản là quyền sử dụng đất cho người thừa kế. Đặc điểm của chia di sản là thừa kế là quyền sử dụng đất: Thứ nhất,di chúc là căn cứ chính và chủ yếu để chia di sản thừa kế, thông qua di chúc, người để lại di sản thực hiện một hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của mình không phụ thuộc vào ý chí của người thừa kế, người để lại di sản quyết định về di sản được phân chia và phân chia như thế nào, cho những người nào được hưởng… Trường hợp di chúc không hợp pháp, không giải quyết triệt để toàn ộ di sản hoặc các trường hợp đặc iệt khác, quy định thừa kế theo pháp luật mới được áp dụng. Thứ hai, người thừa kế có thể là cá nhân hoặc tổ chức ất kỳ xác định theo di chúc hoặc chỉ có thể là cá nhân được xác định theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế dựa trên các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng.
Do di sản là quyền sử dụng đất, người thừa kế phải đảm ảo các quy định khác của pháp luật về đất đai, hộ tịch, nhà ở, xuất nhập cảnh… 1. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại Tòa án. Tranh chấp là những mẫu thuẫn và xung đột phát sinh trong đời sống, giữa các cá nhân, tổ chức trong các quan hệ xã hội. Trong đời sống xã hội, các mối quan hệ xã hội khó có thể điều hòa một các hoàn hảo, những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi, nghĩa vụ luôn tồn tại thường trực.
Giải quyết tranh chấp có nhiều cách, về mặt lý thuyết có thể ao gồm cả ạo lực tuy nhiên ạo lực ít khi được sử dụng để giải quyết tranh chấp do tính hiệu quả thấp và nguy 10 cơ làm tranh chấp thêm “leo thang”. Giải quyết tranh chấp có thể phân vào hai nhóm chính: Một là, các quy trình đồng thuận, theo đó các ên tranh chấp cùng gặp gỡ, trao đổi với nhau về quyền lợi, cùng chấp nhận “ ước lùi”để cố gắng đạt được th a thuận, hướng tới một lợi ích, mục tiêu, kết quả quan trọng khác như hợp tác, hòa giải, thương lượng, đàm phán… Hai là,các ên đề nghị một ên thứ a đứng ra phân xử căn cứ theo các quy tắc, quy phạm xử sự chung của xã hội, theo các chu n mực đạo đức như trọng tài, tòa án… Như đã nêu ở trên, thừa kế là một nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển xã hội loài người nhưng người kế không chỉ luôn luôn có một mà có nhiều, thậm chí là rất nhiều, mỗi chủ thể lại có một nhu cầu lợi ích khác nhau dẫn tới sự xung đột, mâu thuẫn lợi ích là khó tránh kh i, tranh chấp từ đó xảy ra. Các phương thức giải quyết tranh chấp không nằm ngoài các cách đã nêu trên, việc hòa giải đối thoại là ưu tiên hàng đầu trong giải quyết tranh chấp nhưng khong phải lúc nào phương thức này cũng phát huy hiệu quả, khi đó các ên tranh chấp phải nhờ cậy ên thứ a mà các ên tranh chấp tin tưởng để giải quyết tranh chấp như trọng tài, tòa án…trong phạm vi nghiên cứu, tác giả nói về gải quyết tranh chấp tại tòa án. Tòa án là một cơ quan thực hiện quyền lực x t xử.
Nhiệm vụ của toà án thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, của tổ chức, của cộng đồng, để ảo vệ công lý, ảo vệ quyền con người, ảo vệ chế độ, ảo vệ lợi ích của nhà nước và người dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: TAND là cơ quan x t xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. TAND có nhiệm vụ ảo vệ công lý, ảo vệ quyền con người, quyền công dân, ảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, ảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Từ đó, có thể hiểu giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại tòa án là việc tòa án căn cứ các quy định của pháp luật, tiền lệ pháp, tập quán, lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh 11 chấp theo quy định.