Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát chung về bảo đảm quyền công dân trong giải quyết vụ việc liên quan tới quyền sử dụng đất củaTòa án nhân dân cấp huyện 1. Nhận thức chung về quyền công dân “Công dân” (citizen), theo Từ điển Merriam-Webster online, là một khái niệm xuất hiện từ thế kỷ XIV, có nghĩa là “một cá nhân (hợp pháp) thuộc về một quốc gia và có các quyền và sự bảo vệ của quốc gia đó”. Cũng như thuật ngữ nhân quyền, có nhiều định nghĩa về quyền công dân (citizen’s right), tuy vậy theo một nghĩa khái quát nhất, có thể hiểu quyền công dân là những lợi ích pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch của nước mình.
Theo Từ điển Cambridge online, công dân là thành viên của một quốc gia cụ thể và có các quyền bởi được sinh ra tại đó hoặc bởi được trao cho các quyền”. Còn theo Bách khoa toàn thư Stanford Encyclopedia of Philosophy, “công dân là thành viên của một cộng đồng chính trị, người mà được hưởng các quyền và thừa nhận các nghĩa vụ của (một) thành viên”. Trong lịch sử Việt Nam, “công dân” là một phạm trù, một chế định chính trị - pháp lý có tính“hiến định hiện đại”. Điều này có nghĩa rằng nó không tồn tại cùng với lịch sử dân tộc.“Công dân” là sự xác định thể nhân về mặt pháp lý thuộc về một NN nhất định.
Vì vậy, xác định địa vị pháp lý của một cá nhân chính là việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân đó đối với quốc gia nơi họ đang sinh sống, làm việc trong mối quan hệ lâu dài, bền vững và ổn định. Hay nói khác đi, mối liên hệ pháp lý giữa cá nhân và NN nơi họ sinh sống và tồn tại sẽ quyết định đến việc xác định quyền và 7 e nghĩa vụ của chính cá nhân đó. Như vậy, có thể thấy, khái niệm công dân thường gắn với một quốc gia cụ thể (thông qua quốc tịch) và “quyền công dân” có thể được hiểu là những gì được hưởng, được bảo vệ mà một quốc gia dành cho công dân của nước mình. Cách hiểu này cũng giống như học thuyết các quyền pháp lý (legal rights) về nguồn gốc của quyền con người, trong đó cho rằng các quyền con người không phải là bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa1.
Theo từ điển tiếng Việt “quyền công dân” được hiểu là “quyền của cá nhân công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền kinh tế văn hóa - xã hội”. Như vậy, “quyền công dân” là quyền con người, được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình, là tập hợp những quyền được Hiến pháp và pháp luật của mỗi Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện. Nhà nước Việt Nam kể từ khi ra đời năm 1946 tới nay đều khẳng định quyền con người, quyền công dân được Nhà nước ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ thông qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992. Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013, QCN, QCD tiếp tục được ghi nhận và khẳng định trên các phương diện: Một là, ghi nhận các quyền cơ bản của con người, của công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, phù hợp với trình độ sản xuất, phát triển và tương quan lực lượng giữa các giai tầng trong xã hội.
Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, QCD về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”, điều này thể hiện sự phát triển quan trọng về 8 e nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Hai là, bên cạnh việc ghi nhận quyền công dân, nhà nước cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước thông qua những đảm bảo nhằm tôn trọng, thực hiện việc bảo đảm và bảo vệ QCN, QCD (các điều 14, 19, 20,21, 28, 34, 36, 41-41Hiến pháp 2013). Ngoài ra, QCD còn được đề cập ở nhiều chương khác như chương về Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Việc ghi nhận các quyền mới này hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên, thể hiện nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người, quyền công dân cũng như tiếp tục khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân.
Như vậy, quyền công dân - là những giá trị xã hội được xác lập trên cơ sở chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc; ra đời và phát triển gắn với sự ra đời của Nhà nước. Điều này thể hiện ở chỗ: Các quyền công dân được ghi nhận cả về số lượng (Hiến pháp năm 1946 ghi nhận 26 quyền, đến Hiến pháp năm 1992 đã quy định lên 76 quyền) cũng như chất lượng và được cụ thể hoá trong các luật, đạo luậtnhư: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, Bộ luật Lao động, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật báo chí, Luật Luật sư, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Cư trú, Luật Quốc tịch.và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều đó thể hiện sự phát triển liên tục cả về phương diện chính trị - pháp lý cũng như về phương diện lập hiến, lập pháp. Nội dung các quyền công dân luôn phản ánh những thay đổi của đời sống xã 9 e hội và những giá trị tiến bộ của Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền công dân.
Ba là, các quyền công dân được xác lập ngày càng đầy đủ và phản ánh những giá trị và kế thừa của nhân loại và được thể hiện bằng việc Nhà nước đã tham gia, ký kết các Công ước về quyền con người như: Công ước không áp dụng những hạn chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại; Công ước về ngăn ngừa, trừng trị tội apartheid; Công ước về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền kinh tế, xã hội - văn hoá; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em… Như vậy, Quyền công dân được hiểu là khả năng công dân được thực hiện những hành vi nhất định theo ý chí,theo nguyện vọng, nhận thức, khả năng lựa chọn của chính mình mà pháp luật không cấm nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của chính công dân đó. Hay quyền công dân còn được hiểu là những việc mà công dân - bằng khả năng của mình thực hiện một việc cụ thể nào đó ngoại trừ những việc mà pháp luật cấm không được thực hiện. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền công dân trong giải quyết vụ việc liên quan tới quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân cấp huyện Việc ghi nhận các quyền công dân trong Hiến pháp và pháp luật có nghĩa là Nhà nước thừa nhận những giá trị xã hội của các quyền đó và tạo điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện các quyền này. Vì thế, Hiến pháp và pháp luật cũng xác định các điều kiện, cơ sở, tiền đề và cơ chế cho việc bảo đảm thực hiện quyền, đó là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội phù hợp với quy luật khách quan nhằm bảo đảm cho công dân có khả năng phát huy vai trò cá nhân của mình trong quá trình phát triển chung của xã hội với cơ chế phân công, phân cấp, phân quyền thực hiện bảo đảm quyền 10 e công dân giữa các cơ quan Nhà nước (cơ quan quyền lực nhà nước - Quốc hội, cơ quan hành pháp - chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan Tư pháp - Tòa án - Viện Kiểm sát).
Vì vậy, để các quyền công dân được bảo đảm thực hiện, cần có những cơ chế hữu hiệu cũng như những phương thức thực hiện phù hợp. Mức độ, khả năng thực hiện bảo đảm quyền ra sao phụ thuộc vào nhiều yếu tố của cả hệ thống (tiềm lực, khả năng thực tế, năng lực của cơ quan, tổ chức thực hiện bảo đảm. Căn cứ vào nội dung, tính chất của các quan hệ xã hội có thể phân định bảo đảm cho việc thực hiện quyền công dân thành các bảo đảm về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội với cơ chế tổ chức - pháp lý riêng biệt như: Bảo đảm quyền công dân của chính quyền hành pháp; bảo đảm quyền công dân thông qua cơ chế xét xử của Tòa án hay của cơ quan quyền lực nhà nước để cũng thực hiện quyền. Tuy nhiên, trong hệ thống những bảo đảm trên, bảo đảm về kinh tế, chính trị, xã hội được coi là những bảo đảm chung, mang tính bao trùm (gồm toàn bộ những yếu tố kinh tế, xã hội, những mối quan hệ, lịch sử, văn hoá, truyền thống, tư tưởng…) tác động đến quyền và hình thành môi trường quyền công dân.
Còn bảo đảm về tổ chức - pháp lý (cơ chế tổ chức bộ máy thưc hiện bảo đảm quyền) lại mang tính đặc thù, có vai trò quan trọng trong hệ thống bảo đảm quyền công dân. Vì vậy, khái niệm bảo đảm quyền công dân có nội dung rất rộng, trong đó bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quyền công dân và bảo đảm thực hiện quyền công dân bởi các cơ quan trong bộ máy nhà nước thông qua việc tổ chức thực các văn bản quy phạm pháp luật đó trong thực tiễn, nhằm bảo đảm cho các quyền công dân được thực hiện đúng, đầy đủ và nghiêm minh.