CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI LY HÔN 1. Khái niệm chung về chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất khi ly hôn 1. Khái niệm về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, được hình thành trên cơ sở tình yêu và sự tự nguyện của hai bên nam nữ, xác lập nên quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận. Sau khi kết hôn, ngoài quan hệ nhân thân, quan hệ tình cảm, tình nghĩa vợ chồng thì giữa vợ chồng còn tồn tại quan hệ tài sản với nhau, đây là cơ sở kinh tế để “nuôi sống” gia đình.
Vợ chồng cùng nhau chung sức đồng lòng tạo lập khối tài sản chung, đảm bảo phục vụ những nhu cầu cơ bản, cần thiết của gia đình. Pháp luật của Nhà nước ta thừa nhận vợ chồng có thể vừa có tài sản chung, vừa có tài sản riêng và mỗi bên trong quan hệ hôn nhân với tư cách là công dân đều có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu riêng của mình cũng như tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Để làm rõ khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân, trước tiên cần làm rõ tài sản là gì? Khái niệm tài sản được đề cập đến trong nhiều tài liệu, văn bản khác nhau. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc mục đích tiêu dùng”1.
Pháp luật Dân sự Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế giới, đồng thời kế thừa có sáng tạo trong quá trình phát triển của mình qua các thời kỳ đã định nghĩa: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”2. Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn hình thái là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
1 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2010), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, trang 127 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 11 Về xác định tài sản chung của vợ chồng, khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. Theo đó, để một tài sản trở thành tài sản chung của vợ chồng thì một trong những căn cứ xác lập là “thời kỳ hôn nhân” được giải thích tại khoản 15 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.
Như vậy, có thể định nghĩa tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản được hình thành, tạo ra trong thời gian nam nữ tồn tại quan hệ vợ chồng, xác lập từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân. Trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng đối với tài sản chung có những đặc điểm riêng biệt như sau: - Về chủ thể: giữa hai người phải có quan hệ hôn nhân và quan hệ hôn nhân này là hợp pháp. Có nghĩa là nam nữ phải thỏa mãn điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 và đăng ký kết hôn tại đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Về căn cứ hình thành, chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ chồng: tài sản chung của vợ chồng gắn liền với quan hệ hôn nhân, chỉ sau khi nam nữ kết hôn mới hình thành sở hữu chung của vợ chồng, trong đó có tài sản chung.
Sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt thì sở hữu chung của vợ chồng cũng chấm dứt theo. - Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể: tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, có nguồn gốc quy định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 là tài sản chung của 12 vợ chồng. Khi thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng. Đối với giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị thấp, không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì chỉ cần vì lợi ích chung, phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng.
Đối với tài sản riêng của mỗi bên, về cơ bản chủ sở hữu tài sản sẽ có quyền tự mình định đoạt tài sản không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Tuy nhiên trong một số trường hợp, xuất phát từ lợi ích chung của gia đình thì quyền năng này của chủ sở hữu bị pháp luật hạn chế ở một mức độ nhất định. - Về hình thức sở hữu: Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia kể cả khi ly hôn hay trong thời kỳ hôn nhân.
Đối với tài sản có tranh chấp, nếu các bên không có căn cứ để chứng minh đó là tài sản riêng của mỗi bên thì sẽ mặc nhiên được coi là tài sản chung của vợ chồng. Khái niệm tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Trong hệ thống pháp luật nước ta, thuật ngữ quyền sử dụng đất được đề cập đến ở nhiều văn bản khác nhau. Khái niệm QSDĐ đã được nhắc đến trong các văn bản pháp luật đất đai từ những thập niên 70 của thế kỷ XX với tên gọi là quyền quản lý và sử dụng ruộng đất3. Tuy nhiên đến nay pháp luật hiện hành vẫn chưa có định nghĩa chính thức về khái niệm QSDĐ.
Nếu hiểu theo phương diện QSDĐ là một trong các quyền sở hữu thì có thể định nghĩa QSDĐ là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của đất nước; cho quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước không trực tiếp sử dụng mà trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bằng hình thức giao đất hoặc cho thuê đất. Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai 3 Trần Quang Huy, Nguyễn Quang Tuyến (đồng chủ biên), Pháp luật về kinh doanh bất động sản, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2009. 13 trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đã khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất…”. Từ điển Luật học năm 2006 định nghĩa “quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. Khái niệm này đã làm rõ được nguồn gốc của QSDĐ là do Nhà nước giao, cho thuê, hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế hoặc được tặng cho.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định QSDĐ là một quyền tài sản, xác lập dựa trên cơ sở các quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ của cơ quan nhà nước hoặc phát sinh dựa trên các giao dịch nhận chuyển QSDĐ, bao gồm khai thác các thuộc tính, công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai. Qua đó, có thể định nghĩa QSDĐ là tài sản chung của vợ chồng chính là quyền tài sản của vợ chồng trong việc khai thác các thuộc tính, công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai được xác lập từ thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân cho đến khi hôn nhân chấm dứt. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ bao gồm: - QSDĐ hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được từ tài sản riêng. 4 Viện Khoa học pháp lý (năm 2006), Từ điển Luật học (trang 655), Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà Xuất bản Tư pháp, Hà Nội 14 - Tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ gồm QSDĐ do vợ chồng tạo ra; do vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung hoặc QSDĐ mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Khi có tranh chấp liên quan đến tài sản là QSDĐ mà vợ, chồng không có căn cứ để chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì QSDĐ đó được coi là tài sản chung.3 Khái niệm pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất khi ly hôn Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, hạt nhân của xã hội là gia đình.