Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật học mang tên "Phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành" do tác giả Trần Thảo Hiền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Lan Hương, hoàn thành năm 2024.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng quyền sử dụng đất (QSDĐ) là một tài sản, di sản thừa kế đặc biệt có thể tồn tại qua nhiều thế hệ. Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, do đó việc định đoạt và phân chia di sản là QSDĐ không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự mà còn phải tuân thủ nghiêm ngặt các chính sách, quy hoạch đất đai của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về thừa kế QSDĐ có xu hướng gia tăng về số lượng, diễn biến phức tạp và kéo dài; nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội và tính đoàn kết gia đình. Bên cạnh đó, từ năm 2000 đến nay, hệ thống pháp luật liên quan đã trải qua nhiều lần sửa đổi qua các văn bản: Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Luật Nhà ở năm 2006, Luật Đất đai năm 2013, BLDS năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014. Sự thay đổi này tạo ra các khoảng trống và điểm giao thoa pháp lý cần được nghiên cứu toàn diện nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, xã hội và các chủ thể thừa kế.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra những bất cập trong các quy định của Bộ luật Dân sự, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa kế là QSDĐ; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Làm rõ các vấn đề lý luận về thừa kế và phân chia di sản thừa kế là QSDĐ; hệ thống hóa các khái niệm, phân tích đặc điểm và tính đặc thù của di sản thừa kế QSDĐ so với các loại tài sản thông thường.
    2. Nghiên cứu, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến phân chia di sản thừa kế QSDĐ để nhận diện những điểm tương thích cũng như những điểm còn mâu thuẫn, chưa phù hợp.
    3. Đề xuất các giải pháp khoa học nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp phân chia di sản thừa kế là QSDĐ tại cơ quan Tòa án.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về thừa kế và phân chia di sản thừa kế là QSDĐ; hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phân chia di sản thừa kế QSDĐ; thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định phân chia di sản theo pháp luật Việt Nam hiện hành trên cơ sở so sánh với BLDS 1995, BLDS 2005; các quy định về thừa kế QSDĐ trong Luật Đất đai (1993, 2003, 2013); kết hợp phân tích thực tiễn xét xử thông qua các bản án dân sự phúc thẩm cụ thể tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Luật Đất đai năm 2013. Đề tài tiếp cận khái niệm thừa kế từ quan điểm của Ph. Ăng-ghen ("sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống") và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội.

Về cơ sở pháp lý, khóa luận khai thác hệ thống văn bản pháp luật thực định gồm:

  • BLDS năm 2015 (các điều khoản về quyền tài sản, người thừa kế, hình thức di chúc, di sản thờ cúng, di tặng, thừa kế thế vị, trích chia di sản);
  • Luật Đất đai năm 2013 (các điều 3, 54, 55, 56, 100, 101, 102, 129, 153, 168, 179, 186, 188);
  • BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;
  • Luật Nhà ở năm 2014, Luật Quốc tịch năm 2008 (Điều 3), Luật Công chứng (Điều 57);
  • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ;
  • Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Về phương diện lịch sử lập pháp, tác giả đối chiếu các quy định pháp luật cổ và cận đại gồm Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức năm 1483), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long năm 1815), Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng là các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ từng điều luật, cấu thành vi phạm, điều kiện hiệu lực của di chúc và điều kiện chuyển quyền sử dụng đất.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các đặc điểm, nguyên tắc pháp lý từ các quy định rải rác trong nhiều đạo luật.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của các bộ luật qua từng thời kỳ lịch sử và so sánh quy phạm dân sự với quy phạm đất đai.
  • Phương pháp diễn giải và quy nạp: Rút ra các kết luận pháp lý từ phân tích bản án thực tế.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm hai nhóm:

  • Nhóm tài liệu lý luận và học thuật: Các công trình nghiên cứu đã công bố như luận văn thạc sĩ luật học của Lê Hoàng Anh (2013), Trần Huy Nam (2016), Vũ Thị Nguyệt (2017), Nguyễn Thị Hồng Vân (2019), Vũ Thị Hương (2021), Lê Văn Minh (2012), Nguyễn Văn Mạnh (2000) cùng các bài viết chuyên san của Nguyễn Minh Hằng (2019), Nguyễn Anh Dương (2013).
  • Nhóm dữ liệu thực chứng: Các bản án xét xử thực tế được khai thác từ Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân, bao gồm: Bản án số 139/2020/DS-PT ngày 22/05/2020 của TAND thành phố Hà Nội; Bản án số 20/2023/DS-PT ngày 25/07/2023 của TAND tỉnh Ninh Bình; Bản án số 16/2023/DS-PT ngày 16/02/2023 của TAND tỉnh Nam Định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất

Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất và quan hệ thừa kế QSDĐ trong hệ thống pháp luật Việt Nam:

  • Khái niệm và đặc điểm của QSDĐ: QSDĐ là quyền tài sản đặc thù trị giá được bằng tiền nhưng không đồng nhất với quyền sở hữu đất đai. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý; người sử dụng đất có 3 đặc điểm: (1) Quyền dân sự đặc thù gắn liền với đất đai; (2) Chủ thể bị hạn chế quyền định đoạt (tổ chức không được để lại thừa kế QSDĐ, người thuê đất trả tiền hàng năm không có đầy đủ quyền năng); (3) Hình thức, thủ tục, điều kiện thực hiện quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Đất đai.
  • Đặc điểm thừa kế QSDĐ: Tác giả xác định 5 đặc trưng: (1) Gắn liền với sự kiện pháp lý người có QSDĐ chết, trong đó di sản là quyền tài sản chứ không phải đất đai vật chất; (2) QSDĐ phải là tài sản hợp pháp của người chết (tài sản riêng hoặc phần quyền trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng/đồng sở hữu); (3) Chịu sự điều chỉnh đồng thời của cả pháp luật dân sự và pháp luật đất đai; (4) Chịu sự hạn chế nhất định đối với người thừa kế là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (5) Đăng ký thừa kế di sản là thủ tục pháp lý bắt buộc để phát sinh quyền của người thừa kế.
  • Các loại QSDĐ là di sản và điều kiện để lại thừa kế: Căn cứ Luật Đất đai 2013, QSDĐ được phép để lại thừa kế gồm: đất nông nghiệp giao trong hạn mức (Điều 129); đất được giao có thu tiền sử dụng đất (Điều 54); đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê (Điều 56); đất được Nhà nước công nhận QSDĐ (Điều 100, 101, 102); đất do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế hợp pháp. Bốn điều kiện để lại thừa kế theo Điều 188 Luật Đất đai 2013 gồm: (1) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), ngoại trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 186, khoản 1 Điều 168 và Điều 101 Luật Đất đai 2013, Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP; (2) Đất không có tranh chấp; (3) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (4) Đất còn thời hạn sử dụng.
  • Bốn nguyên tắc phân chia di sản thừa kế QSDĐ: (1) Tôn trọng ý chí của người lập di chúc; (2) Đảm bảo tính đoàn kết trong gia đình; (3) Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế (Điều 57 Luật Công chứng); (4) Bảo đảm quyền lợi của một số người thừa kế theo luật (hưởng 2/3 suất thừa kế theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015).
  • Lịch sử pháp luật thừa kế đất đai: Khóa luận khái quát qua 4 giai đoạn: thời phong kiến (Bộ luật Hồng Đức 1483 bảo vệ một phần quyền của phụ nữ, chia điền sản và ruộng hương hỏa; Bộ luật Gia Long 1815 chỉ trao quyền cho con trai, cháu trai); thời Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ quy định chế độ tài sản bất bình đẳng giới); thời kỳ 1945–1995 (Sắc lệnh 97/SL năm 1950, Hiến pháp 1959, Luật Hôn nhân và Gia đình 1959 xác lập quyền bình đẳng nam nữ; Hiến pháp 1980 và Luật Đất đai 1987 chưa cho phép thừa kế QSDĐ; Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 chính thức công nhận quyền thừa kế); thời kỳ 1995 đến nay (BLDS 1995, Luật Đất đai 2003, BLDS 2005, Luật Đất đai 2013, BLDS 2015 chuyển đổi kỹ thuật lập pháp theo hướng BLDS quy định nguyên tắc chung, quy định cụ thể áp dụng theo Luật Đất đai).

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và các vướng mắc qua thực tiễn xét xử:

  • Thực trạng pháp luật về phân chia di sản theo di chúc và theo pháp luật:
    • Điều kiện lập di chúc tuân thủ Điều 625 BLDS 2015 (người thành niên minh mẫn; người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi cần cha mẹ/người giám hộ đồng ý) và điểm đ khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai 2013.
    • Hình thức di chúc gồm di chúc văn bản (Điều 628 BLDS 2015) và di chúc miệng (Điều 629 BLDS 2015). Di chúc miệng đối với QSDĐ chỉ hợp pháp khi tính mạng bị cái chết đe dọa, có ít nhất hai người làm chứng ghi chép, cùng ký tên/điểm chỉ và phải được công chứng/chứng thực chữ ký trong vòng 05 ngày làm việc; di chúc miệng tự động hết hiệu lực nếu sau 03 tháng người lập vẫn sống và minh mẫn.
    • Phân chia di sản bằng hiện vật phải đáp ứng quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa của địa phương. Tác giả dẫn chứng số liệu hạn mức và diện tích đất ở tối thiểu, tối đa được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hà Nội theo Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017:
Khu vực địa bàn Diện tích tối thiểu Diện tích tối đa
Các phường 30 m² 90 m²
Các xã giáp ranh các quận và thị trấn 60 m² 120 m²
Các xã vùng đồng bằng 80 m² 180 m²
Các xã vùng miền núi 150 m² 300 m²
  • Các trường hợp phân chia đặc thù:

    • Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015): Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên không có khả năng lao động được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo luật.
    • Di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 645) và di tặng (Điều 646): Pháp luật chưa quy định rõ người đứng tên GCNQSDĐ đối với đất thờ cúng, mục đích sử dụng đất ghi nhận thế nào, thời hạn sử dụng đất và phương thức xử lý hoa lợi phát sinh từ đất thờ cúng.
    • Thừa kế thế vị (Điều 652): Chỉ áp dụng trong thừa kế theo pháp luật, áp dụng cho cả quan hệ con nuôi (Điều 651), con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng (Điều 654).
    • Người thừa kế mới và người bị bác bỏ quyền thừa kế (Điều 662, Điều 621): Việc quy đổi kỷ phần thành tiền để trả cho người thừa kế mới chưa dự liệu được sự trượt giá của đồng tiền qua thời gian dài.
    • Hạn chế phân chia di sản (Điều 661): Thời hạn hạn chế do ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống vợ/chồng còn sống tối đa là 3 năm, được gia hạn 1 lần không quá 3 năm (tổng thời gian hạn chế tối đa là 6 năm).
    • Người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 186 Luật Đất đai 2013, Điều 7 Luật Nhà ở 2014): Nếu thuộc diện được sở hữu nhà ở thì được nhận thừa kế nhà ở gắn liền với QSDĐ; nếu không thuộc diện thì chỉ được hưởng giá trị bằng tiền.
    • Đất nông nghiệp: Phân chia phải phù hợp hạn mức giao đất nông nghiệp (Điều 129) và điều kiện đăng ký chuyển quyền (Điều 168, 179).
  • Thực tiễn thực hiện qua 3 bản án điển hình:

    1. Bản án số 139/2020/DS-PT ngày 22/05/2020 của TAND TP. Hà Nội: Xét xử tranh chấp di sản là thửa đất số 96, tờ bản đồ số 11, diện tích 186 m² (GCNQSDĐ cấp ngày 19/10/2001 ghi 189,9 m²) tại huyện Quốc Oai. Di chúc đánh máy lập ngày 01/4/2014 của bà Đ.T (75 tuổi) cho 3 người con đã bị Tòa phúc thẩm tuyên hủy. Lý do: Ông N.L (trưởng thôn) khai không trực tiếp chứng kiến bà T lập và ký di chúc; UBND xã chỉ chứng nhận chữ ký của ông L chứ không chứng thực di chúc. Người lập di chúc là người cao tuổi, văn bản không có người làm chứng hợp pháp theo Điều 649, 650, 667 BLDS 2005.
    2. Bản án số 20/2023/DS-PT ngày 25/07/2023 của TAND tỉnh Ninh Bình: Tranh chấp di sản của cụ Cù Văn X và cụ Vũ Thị S2 (chết không có di chúc) gồm diện tích 102 m² tại thửa số 95, tờ bản đồ số 17 tại thị trấn N, huyện N cho 7 người con. Do diện tích 102 m² quá nhỏ không thể phân chia bằng hiện vật cho toàn bộ các kỷ phần, Tòa án quyết định giao toàn bộ thửa đất cho bà Vũ Thị T2 (vợ của người con trai đã chết là ông S3) vì bà T2 đã sinh sống từ năm 1998, trực tiếp tôn tạo nhà ở trên đất và không có chỗ ở nào khác; đồng thời buộc bà T2 thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế còn lại.
    3. Bản án số 16/2023/DS-PT ngày 16/02/2023 của TAND tỉnh Nam Định: Tranh chấp di sản giữa nguyên đơn anh Nguyễn Mạnh C và bị đơn anh Trần Nam T. Cụ bà Nguyễn Thị M lập di chúc ngày 04/07/2017 để lại 1/2 căn nhà và 62,15 m² đất (trong khối tài sản chung 124,3 m² tại thửa đất số 29, tờ bản đồ 68, TP. Nam Định) cho cháu ruột là anh C. Tòa án xác định người chồng là ông Trần Doãn L thuộc đối tượng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015, từ đó chấp nhận yêu cầu phản tố, xác định bản di chúc chỉ có hiệu lực một phần để trích chia kỷ phần bắt buộc cho người chồng.

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất

Từ các bất cập lý luận và vướng mắc thực tiễn đã chỉ ra, khóa luận đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Hoàn thiện quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng là QSDĐ: Cần có quy định hướng dẫn cụ thể về việc ai là người đứng tên trên GCNQSDĐ; ghi rõ mục đích sử dụng đất thờ cúng; xác định thời hạn sử dụng đất; cơ chế xử lý quyền quản lý di sản khi người thờ cúng chết; và quy định rõ cơ chế phân chia hoặc sử dụng đối với khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản thờ cúng.
    2. Sửa đổi, bổ sung quy định về di chúc miệng đối với QSDĐ: Cần nâng cao tính pháp lý và quy chuẩn thủ tục ghi nhận di chúc miệng, đặc biệt là điều kiện kiểm tra năng lực hành vi và tính tự nguyện của người lập di chúc để khắc phục tình trạng di chúc vô hiệu về hình thức.
    3. Sửa đổi quy định về đối tượng thừa kế đất nông nghiệp: Cần đồng bộ hóa điều kiện nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận hiện vật, tránh phân tán tư liệu sản xuất.
  • Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật:
    1. Tiếp tục xây dựng, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, đẩy mạnh ứng dụng chính phủ điện tử trong quản lý thông tin địa chính và lịch sử biến động thửa đất.
    2. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác địa chính, đăng ký đất đai và công chứng, chứng thực.
    3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai và dân sự nhằm nâng cao nhận thức của người dân về thủ tục lập di chúc hợp pháp và nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai sau khi nhận thừa kế.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và chỉ ra những kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với các quy định pháp luật thực định và dữ liệu bản án:

  • Hệ thống hóa toàn diện các điều kiện pháp lý để QSDĐ trở thành di sản thừa kế theo Điều 188 Luật Đất đai 2013 và các trường hợp ngoại lệ theo Điều 101 Luật Đất đai 2013, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
  • Phân tích và hệ thống hóa các chỉ số diện tích tối thiểu và tối đa được phép tách thửa tại thành phố Hà Nội theo Quyết định 20/2017/QĐ-UBND (từ 30 m² đến 300 m² tùy theo địa bàn phường, xã đồng bằng hay miền núi), chứng minh sự ràng buộc trực tiếp của quy hoạch hành chính đối với quyền phân chia di sản bằng hiện vật theo Điều 659 BLDS 2015.
  • Làm rõ nguyên nhân dẫn đến việc tuyên hủy di chúc hoặc di chúc chỉ có hiệu lực một phần thông qua 3 bản án thực tế: Bản án số 139/2020/DS-PT (vô hiệu di chúc của người 75 tuổi do sai sót thủ tục làm chứng và chứng thực chữ ký), Bản án số 20/2023/DS-PT (phương thức giao hiện vật thửa đất 102 m² cho một chủ thể có nhu cầu cấp bách và thanh toán tiền cho các đồng thừa kế), và Bản án số 16/2023/DS-PT (cơ chế bảo đảm quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc đối với diện tích 62,15 m² đất).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận tự xác định không trùng lặp với các công trình của Lê Hoàng Anh (2013), Trần Huy Nam (2016), Vũ Thị Nguyệt (2017), Nguyễn Thị Hồng Vân (2019), Vũ Thị Hương (2021) nhờ việc tiếp cận trực tiếp mối quan hệ đan xen giữa BLDS 2015 và Luật Đất đai 2013, phân tích sâu các bất cập lập pháp chuyên biệt (đất thờ cúng, di chúc miệng đối với bất động sản, vấn đề trượt giá khi bồi hoàn cho người thừa kế mới xuất hiện theo Điều 662 BLDS 2015).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn do phạm vi nghiên cứu và thời điểm hoàn thành:

  • Văn bản hoàn thành năm 2024, các phân tích pháp lý chủ yếu đặt trên nền tảng của Luật Đất đai năm 2013 và BLDS năm 2015; khóa luận chưa kịp thời cập nhật và đánh giá các điểm mới của Luật Đất đai sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua.
  • Dữ liệu thực tiễn xét xử được tác giả tập trung khai thác qua các bản án cụ thể tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình), chưa có điều kiện khảo sát số liệu thống kê tổng hợp trên quy mô toàn quốc về số lượng vụ án tranh chấp thừa kế QSDĐ bị hủy, sửa qua các năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp phân chia di sản thừa kế là QSDĐ dưới tác động của Luật Đất đai mới khi đi vào thực tiễn thi hành; nghiên cứu sâu hơn về quy chế đăng ký biến động đất đai đối với di sản thờ cúng và di tặng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học (đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Đất đai) khi nghiên cứu về chế định thừa kế và kỹ năng xử lý tranh chấp liên quan đến quyền tài sản bất động sản.
  • Những người làm công tác nghiên cứu hoặc xây dựng đề tài tương tự có thể tham khảo phương pháp rà soát lịch sử lập pháp từ thời phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) đến hiện đại, cũng như phương pháp giải cấu trúc bản án dân sự phúc thẩm.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là các phân tích chi tiết tại Chương 2 về điều kiện hiệu lực của di chúc lập bởi người cao tuổi, tiêu chí Tòa án phân xử giao hiện vật khi diện tích đất không thể chia nhỏ, và các bất cập pháp lý tại Điều 645 BLDS 2015 về đất thờ cúng.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật được khóa luận viện dẫn, quyền sử dụng đất phải đáp ứng những điều kiện nào để trở thành di sản thừa kế? Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai 2013, QSDĐ để lại thừa kế phải đáp ứng 4 điều kiện: có GCNQSDĐ (hoặc đủ điều kiện cấp theo khoản 3 Điều 186, khoản 1 Điều 168, Điều 101 Luật Đất đai 2013 và Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP); đất không có tranh chấp; QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; và đất còn thời hạn sử dụng.

2. Tại Bản án số 139/2020/DS-PT của TAND TP. Hà Nội, vì sao Tòa án cấp phúc thẩm lại tuyên hủy bản di chúc của bà Đ.T? Tòa phúc thẩm hủy di chúc vì bản di chúc đánh máy ngày 01/4/2014 của bà Đ.T (75 tuổi - người cao tuổi) không có người làm chứng hợp pháp theo Điều 649, 650, 667 BLDS 2005. Người làm chứng ký tên trong di chúc (trưởng thôn) thừa nhận không trực tiếp chứng kiến bà lập và ký di chúc; UBND xã chỉ chứng nhận chữ ký của trưởng thôn chứ không chứng thực nội dung di chúc.

3. Khi diện tích di sản thừa kế quá nhỏ không thể phân chia bằng hiện vật cho tất cả đồng thừa kế, Tòa án giải quyết thế nào theo Bản án số 20/2023/DS-PT của TAND tỉnh Ninh Bình? Với diện tích 102 m² đất tại thị trấn N, Tòa án xác định việc chia đều bằng hiện vật cho 7 kỷ phần là bất khả thi. Do đó, Tòa án giao toàn bộ thửa đất bằng hiện vật cho bà Vũ Thị T2 (người đã sinh sống, quản lý, xây dựng nhà ở ổn định từ năm 1998 và không có nơi ở nào khác), đồng thời buộc bà T2 thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế còn lại.

4. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận thừa kế di sản là QSDĐ theo hình thức nào theo phân tích trong khóa luận? Theo Điều 186 Luật Đất đai 2013 và Luật Nhà ở 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì được nhận thừa kế nhà ở gắn liền với QSDĐ ở; trường hợp không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở thì không được cấp GCNQSDĐ mà chỉ được hưởng giá trị bằng tiền của phần di sản thừa kế đó.

5. Khóa luận chỉ ra những điểm còn thiếu sót nào trong quy định về di sản thờ cúng là QSDĐ tại Điều 645 BLDS 2015? Khóa luận chỉ ra rằng Luật chưa quy định rõ: ai là người đứng tên trên GCNQSDĐ đối với đất dùng vào việc thờ cúng; mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất ghi nhận ra sao; di sản được xử lý thế nào khi người quản lý chết; và phương thức phân chia hoặc sử dụng đối với các khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối di sản thờ cúng đó.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thảo Hiền đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Công trình làm rõ mối quan hệ tương hỗ và các điểm xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 thông qua việc phân tích chuyên sâu các án lệ thực tế. Các kiến nghị được đề xuất tập trung giải quyết những khoảng trống lập pháp về di sản thờ cúng, di chúc miệng và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai.