chương I của luận văn để lý giải những nguyên tắc, nguyên lý, giả thuyết, kết luận, định nghĩa, khái niệm … - Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung nhất trong công tác nghiên cứu. Luận văn vận dụng phương pháp này trong việc xem xét đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Việt Nam trong những điều kiện cụ thể và các mối quan hệ khác. Ngoài ra, luận văn còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp thu thập số liệu, xử lý thông tin, thống kê, phân tích, so sánh… nhằm đưa ra được những thông tin, số liệu chính xác, những biện pháp tối ưu phục vụ cho công tác nghiên cứu bám sát với thực tiễn đời sống. Tính mới và những đóng góp của đề tài Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Việt Nam.
Qua đó thấy được những nguyên nhân chủ yếu (chủ quan và khách quan) dẫn đến những tranh chấp này, từ đó đưa ra những biện pháp ngăn chặn và phương pháp giải quyết khi tranh chấp xảy ra. 9 Trên cơ sở đưa ra những giải pháp có tính khả thi cao nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp cũng như đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay. Bố cục luận văn bao gồm: Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn gồm có 3 chương: CHƢƠNG 1 – Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn CHƢƠNG 2 – Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn CHƢƠNG 3 – Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tác giả rất mong nhận được những lời nhận xét, đánh giá góp ý để có thêm kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung. 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN 1.
Khái quát chung về tranh chấp quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi nhiều mâu thuẫn đan xen lẫn nhau. Để thấy rõ một cách toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ta phải xem xét nó nằm ở vị trí nào trong các dạng tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay và nó có vai trò như thế nào trong các quan hệ pháp luật cũng như trong xã hội. Tranh chấp đất đai có thể được chia thành hai loại lớn, đó là tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó.
Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể chia thành các dạng như sau: - Thứ nhất: Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xuyên xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới hành chính không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý hiếm. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.
- Thứ hai: Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do 11 nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sử dụng nữa. Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có những dạng sau: + Một là: Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung.
Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết Trung Ương 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách nhường cơm xẻ áo của Nhà nước trong những năm 1981 – 1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay đòi lại… Ở miền Nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử dụng.
Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng. + Hai là: Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở. + Ba là: Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn 12 cảnh lịch sử chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học… đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó.
Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà. + Bốn là: Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê trong thời gian gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền Nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ đòi lại hoặc là hết hạn hợp đồng, hoặc là bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp.
- Thứ ba: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn: đây là trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất đến khi ly hôn thì cha mẹ đòi lại… - Thứ tư: Tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã chết mà không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp. - Thứ năm: Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: đây là tranh chấp về ranh giới. Loại 13 tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác.
Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ, đất này thường sang nhượng nhiều lần bàn giao không rõ ràng. Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự.