CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP TRONG BOI THUONG, HO TRO VA TAI DINH CU KHI NHA NUOC THU HOI DAT 1. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cw khi Nhà nước thu hồi dat 1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi dat “Bồi thường” là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng trong đời sống thường ngày cũng như trong nghiên cứu pháp luật. Trong việc nghiên cứu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng như trong thực tiễn thi hành pháp luật về đất đai, thuật ngữ “bồi thường khi Nhà nước thu hoi đất” được xây dựng dựa trên quy định của Hiến pháp năm 2013.
Tại Điều 53 và 54 của Hiến pháp đã khang định đất đai là “tdi sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thong nhất quản lý”; với trường hợp “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật can thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng ”. Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hôi đất”. Khái niệm nêu trên chỉ xác định bồi thường về đất, trong khi đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe do áp lực căng thăng, lo âu của người sử dụng đất. Luật Dat đai 2013 không còn sử dụng thuật ngữ “Boi thuong khi Nhà nước thu hôi dat” mà thay bằng thuật ngữ “bôi thường về dat” khi Nhà nước thu hồi đất.
Quy định tại khoản 12 điều 3 Luật Đất đai năm 2013 cũng chỉ nêu phạm vi bồi thường là bồi thường về đất, không bao gồm bồi thường các thiệt hại khác khi Nhà nước thu hồi đất như mất việc làm, mat nơi ở, tài sản gan liền với đắt,. Theo dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) - bản lấy ý kiến nhân dân từ ngày 03/01/2023 - 15/3/2023 tại Khoản 4 Điều 3: “Bồi thường quyên sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi dat (sau đây goi là bôi thường về dat) là việc Nhà nước bôi hoàn cho người sử dung đất bằng tiền hoặc bang đất hoặc bang lợi ích vật chất khác tương ứng với giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích đất thu hoi theo quy định của Luật nay.” Như vậy, pháp luật nước ta chưa xây dựng được khái niệm “bồi thuong khi Nhà nước thu hôi đất” mà chỉ có khái niệm “bối thường về dat” khi Nha nước thu hồi đất quy định trong Luật Dat Dai 2013. Ta có thé phát triển dé đưa ra khái niệm day đủ hơn về thuật ngữ “boi thường khi Nhà nước thu hoi dat” như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tô chức, cá nhân được Nha nước giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tốn hại về đất, tài san gắn liền trên đất và các thiệt hại chính đáng khác do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ được áp dụng khi người bị thu hoi đáp ứng các điều kiện cụ thé và mức bồi thường phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước.
Người sử dụng đất không có quyền yêu cầu mức bôi thường mà phải chấp nhận việc bồi thường theo giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất. Điều này xuất phát một phần từ quan hệ song phương giữa một bên là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, một bên là người được giao quyền sử dụng dat. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “H6 tro: giúp thêm, góp thêm vào ” [31, tr. Hoạt động gồm hai hình thức: hỗ trợ về vật chất (tiền và hiện vật) và hỗ trợ về tình thần (động viên, an ủi).
Theo khoản 7 Điều 4 Luật Dat đai năm 2003 thì: “Ho tro khi Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hôi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phi dé di dời đến địa điểm mới ”. Định nghĩa này tuy có liệt kê các trường hợp hỗ trợ, nhưng không đầy đủ. Khoản 14 Điều 3 Luật đất dai năm 2013 quy định: “H6 tro khi Nhà nước thu hồi dat là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi dé ồn định đời sống, sản xuất và phát triển ”. Theo dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) - bản lấy ý kiến nhân dân từ ngày 03/01/2023 - 15/3/2023 tại Khoản 25 Điều 3: “Hổ tro khi Nhà nước thu hồi đất là chính sách của Nhà nước nhằm trợ giúp cho người có đất thu hôi đề ổn định đời sống, sản xuất và phát triển ngoài các khoản đã bôi thường theo quy định của Luật này.
” Như vậy, có thể xem hỗ trợ là một chính sách trợ cấp ngoài bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Khi người sử dụng đất có đất bị Nhà nước thu hồi không đủ điều kiện để được bồi thường, nhưng được Nhà nước xem xét hỗ trợ hoặc trường hợp người sử dụng dat đã được bồi thường nhưng vẫn được Nhà 10 nước xem xét hỗ trợ để giúp người sử dụng đất nhanh chóng ồn định cuộc song. Mặc dù chế định Nhà nước thu hồi đất vi mục dich quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đã có từ giai đoạn Luật Dat đai năm 1993, nhưng cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nao (kế cả Luật Dat dai năm 2013 và các văn bản hướng dan thi hành luật nay) định nghĩa thé nào là “tdi định cu” khi Nhà nước thu hồi đất. Tại điểm c khoản 2 Điều 83 Luật đất đai năm 2013 chỉ quy định về việc hỗ trợ trong các trường hợp khi bị thu hồi đất, trong đó có trường hợp hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyền chỗ ở; bên cạnh đó, Điều 85, 86 Luật đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, huyện trong việc lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất, bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất.
Trên cơ sở tông hợp các quy định nội dung điều chỉnh về van dé tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, có thé hiểu: Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được áp dụng khi hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị thu hồi đất ở hợp pháp mà phải di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất ở bị thu hồi thì được bố trí tái định cư băng VIỆC giao đất ở, nhà ở hoặc bằng tiền. Tái định cư được hiểu theo nghĩa hẹp là sự bố trí lại chỗ ở mới hoặc tại nơi ở cũ trong trường hợp dự án chỉnh trang đô thị, khu dân cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phải di chuyên chỗ ở. Tái định cư được đặt ra trong trường hợp thu hồi đất ở dẫn đến việc người bị thu hồi đất bị mat đất ở, mat nhà, không còn chỗ ở và phải chuyên chỗ ở đến địa điểm mới tại khu tái định cư. Trường hợp thu hồi các loại đất khác mà không phải là đất ở thì không đặt ra vấn đề tái định cư.
Tái định cư 11 có thé được thực hiện thông qua cơ chế Nhà nước bồi thường băng đất cho người có đất bị thu hồi trong khu tái định cư, Nhà nước đầu tư xây dựng hạ tầng con người có đất bị thu hồi tự xây dựng nhà ở; hoặc Nhà nước bồi thường bằng đất, đã xây dựng hạ tầng và nhà ở rồi bàn giao cho người có đất bị thu hồi. Nếu bồi thường bằng đất ở tại các thửa đất riêng lẻ mà không tạo ra khu tái định cư thì không được gọi là tái định cư mà đó chỉ là bồi thường bằng đất thông thường theo phương thức bồi thường “dat đổi đất”. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (năm 2003) định nghĩa “tranh chấp” là “sự đấu tranh, giang co khi có ý kiến bat đồng, thường là trong van dé quyên lợi giữa các bên” [29, tr. Theo Black’s Law Dictionary thuật ngữ tranh chấp (dispute) được định nghĩa là một xung đột, cuộc đấu tranh về tư tưởng hoặc là sự tranh luận, tranh cãi mà có thể trở thành một vụ kiện [30, tr.
Từ đó, trong nghiên cứu pháp luật ta có thể phát triển để đưa ra khái niệm về thuật ngữ “anh chấp” là sự bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên với nhau trong một quan hệ pháp luật thuộc một lĩnh vực nhất định nao đó của đời sống xã hội. Tranh chấp đất đai nói chung bao gồm trong đó có tranh chấp phát sinh trong bôi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc cho phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong thời gian qua cũng đã được đề cập đến trong các văn bản pháp luật đất đai. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ tranh chấp đất đai đã được sử dụng theo Luật Đất đai năm 1987 (tại các điều luật là Điều 9, Điều 21, Điều 22), 12 Luật Dat đai năm 1993 (Điều 38, Điều 40) nhưng chưa được giải thích chính thức, mà chủ yếu là chỉ được hiểu ngầm qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2003, lần đầu tiên, tại khoản 26 Điều 4 quy định: “Tranh chấp đất dai là tranh chấp về quyên và nghĩa vụ của người sử dụng dat giữa hai hoặc nhiễu bên trong quan hệ đất dai”.