Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE GIAI QUYET TRANH CHAP DAT DAI THEO THU TUC TO TUNG DAN SU TAI TOA AN NHAN DAN 1. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chap dat dai theo thủ tục tô tụng dân sự tại Tòa án nhân dân 1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục t tụng dân sự tại Toa an nhân dan Muốn xây dựng được khái niệm về “giải quyết tranh chấp đất dai”, trước hết phải làm rõ khái niệm “anh chấp đất dai”. Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ “anh chấp dat dai” cũng được quy định khác nhau.
Trong Luật Đất đai năm 1987); Luật Đất đai năm 1993 nhà làm luật không đưa ra giải thích chính thức về tranh chấp đất đai, loại tranh chấp này chỉ được xác định thông qua các quy định của pháp luật. Đến Luật Dat dai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 tranh chấp đất đai được định nghĩa là: “ranh chấp về quyén và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiễu bên trong quan hệ đất dai”. Trong các công trình nghiên cứu khoa học, các tác giả cũng đưa ra những quan điểm riêng về tranh chấp dat đai. Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thé khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản ly và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai”. Theo khái niệm này thì tranh chấp đất đai được tiếp cận rất rộng, bao gồm tất cả các mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thê khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Còn giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh lại đưa ra định nghĩa: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thé (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định. tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”.
Theo định nghĩa này, ' Xem Điều 9, Điều 21, Điều 22. ? Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND 2016, tr. 3 Giáo trình Trường Đại học Luật Thành phô Hồ Chí Minh, 2012. tranh chấp đất đai được tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các tranh chấp về xác định phần quyền sử dụng đất đối với một phần đất đai nhất định.
Trong luận văn này, khái niệm tranh chấp đất đai được tác giả tiếp cận theo nghĩa rộng. Theo đó, ranh chấp đất dai được hiểu là những mâu thuân, xưng đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thé khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất dai liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất dai. Tranh chap đất đai là loại tranh chấp phố biến, phức tạp nhất hiện nay (án tranh chấp đất đai chiếm phan lớn án tranh tụng tại các Tòa án trên khắp lãnh thổ Việt Nam). Do đó, để giải quyết tranh chấp đất đai, cần phải xác định được các dạng tranh chấp đất đai phổ biến.
Việc xác định chính xác dạng tranh chấp đất đai có ý nghĩa quan trọng nhăm xác định chính xác việc đương Sự có quyền khởi kiện tranh chấp tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự hay thủ tục tố tụng hành chính, tranh chấp thuộc thâm quyền của tòa án nhân dân hay Ủy ban nhân dân, xác định thời hiệu khởi kiện, đồng thời là cơ sở để xác định trình tự, thủ tục và đường lối giải quyết tranh chấp. Vậy tranh chấp đất đai được giải quyết theo thủ tục t6 tung dân sự gồm có những loại tranh chấp nào? Hiện nay, có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này: Y kiến thứ nhất cho rang, tranh chap đất đai là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Theo ý kiến này, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật đất đai phải là tranh chấp giữa các chủ thể về việc xác định phần quyền sử dung đất với một diện tích đất nhất định. Y kiến thứ hai cho rằng, tranh chấp đất đai bao gồm những loại tranh chấp: tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất, tranh chấp về chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất.
Theo ý kiến này, tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất đương nhiên là tranh chấp đất đai. Còn các tranh chấp còn lại, mặc dù có liên quan đến một số ngành luật nhất định như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình nhưng trong quan hệ tranh chấp vẫn cần xác định quyền và nghĩa vụ của các chu thê trong việc sử dung dat nên nó là tranh chap dat dai. Trong luận văn này, tác giả tiếp cận tranh chấp đất đai theo ý kiến thứ hai, theo đó tranh chấp đất đai phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không chi có tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Như vậy, tranh chấp đất dai sẽ bao gồm các loại tranh chấp sau: + Một là, tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất.
Các tranh chap phô biến trong trường hợp này là tranh chấp về ranh giới đất liền kề, ngõ đi, cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị trùng diện tích, người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chủ cũ đòi lại đất hoặc chủ cũ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người sử dụng đất cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng. + Hai là, tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đắt, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tặng cho). Bản chất của tranh chấp trong các trường hợp này là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Thời hiệu khởi kiện đối với dạng tranh chấp này được áp dụng như đối với thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng nói chung.
+ Ba là, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Thông thường đây là các tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế. Bản chất của dạng tranh chấp này là tranh chấp thừa kế có đối tượng là quyền sử dụng đất và Tòa án phải xác định ranh giới đất để phân chia. + Bốn là, tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất, hoặc sau khi ly hôn.
Hiện nay theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 trang chấp đất đai có thé được giải quyết tại hai co quan có thẩm quyền đó là Uy ban nhân dân và Tòa án nhân dân, tranh chấp đất đai được giải quyết tại Tòa án có thê theo hai thủ tục là tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Trong luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự. Kết hợp giữa quy định của Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 2 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thâm phán 10 Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án, nhận thấy rằng, trong các loại tranh chấp đất đai được phân tích ở trên thì riêng tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất phải thực hiện thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện ra Tòa án. Sau khi tranh chấp được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì từng tranh chấp đất đai mà xác định thủ tục áp dụng.
Đối với loại tranh chấp đất đai có giấy tờ thì sau khi hòa giải không thành thi chỉ duy nhất nhất có một co quan có thâm quyền giải quyết đó là Tòa án và thủ tục áp dụng là t6 tung dan su. Đối với loại tranh chấp đất đai không có giấy tờ thì sau khi hòa giải không thành các bên có quyền lựa chọn một trong hai cơ quan có thâm quyền giải quyết đó là Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nếu sau khi giải quyết tại Ủy ban nhân dân cấp huyện mà các bên không đồng ý thì có quyền khiếu nại lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Cơ sở dé phân định thấm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự và t6 tụng hành chính phải dựa vào yêu cầu của các bên tranh chấp dé xác định ban chất của quan hệ tranh chấp.
Nếu các bên khởi kiện liên quan đến các chủ thể không bình đăng, yêu cầu giải quyết liên quan đến việc xem xét tính đúng đắn của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quá trình quản lý nhà nước thi thủ tục áp dụng là tố tụng hành chính. Còn nếu yêu cầu giải quyết liên quan đến các chủ thể bình đăng về địa vị trong quan hệ pháp luật và nội dung yêu cầu liên quan đến việc xác định quyền và nghĩa vụ sử dụng đất thì thủ tục áp dụng là tố tụng dân sự. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án sẽ trải qua các giai đoạn đó là: khởi kiện và thụ lý vụ án tranh chấp đất đai, chuẩn bị xét xử sơ thâm, phiên tòa sơ thâm; nếu sau khi có phán quyết của Tòa án cấp sơ thâm mà đương sự có kháng cáo, viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm thì quá trình tố tụng có thể phát sinh thêm giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thâm và phiên tòa phúc thâm. Trong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu giải quyết tranh chấp đất dai tại Tòa án cap sơ thẩm.
11 Như vậy, giải quyết tranh chấp đất dai theo thủ tục tô tụng dân sự là việc Toà án sử dụng trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định trong pháp luật tô tụng dân sự dé thảo gỡ những bat dong, xung đội, mâu thuân về quyên và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai liên quan đến việc quản lý, sử dung dat dai.