CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BAN VE ÁP DỤNG PHÁP LUAT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHAP DAT DAI CUA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CÁP HUYỆN 1. Khái luận chung về áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân cấp huyện 1. Nhận thức về hoạt động áp dụng pháp luật Trong khoa học pháp lý, áp dụng pháp luật là một hình thức đặc thù của thực hiện pháp luật do vậy, việc nhận thức về hoạt động áp dụng pháp luật cần phải được bắt đầu từ việc xem xét hoạt động thực hiện pháp luật. Ở bất kỳ một hình thức Nhà nước nào, pháp luật luôn được xem là công cụ đảm bảo cho một xã hội ôn định, dân chủ công bằng, xã hội văn minh.
Về cơ bản, pháp luật được hiểu chung nhất là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của Nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng quyền lực. Những quy phạm pháp luật được Nhà nước đặt ra nhằm sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quản lý mọi mặt của đời sống, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phát huy quyền làm chủ của công dân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, mục đích đó chỉ thực hiện được khi các chủ thể trong xã hội thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế, vì vậy ngoài các yếu tô như sự phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật thì Nhà nước còn phải quan tâm đến tô chức thực hiện pháp luật, đặc biệt là áp dụng pháp luật trên thực tế để biến những câu chữ pháp luật trên văn bản biến thành cách xử sự hợp pháp của các chủ thé khi các chủ thé tham gia quan hệ pháp luật nhất định. Bàn vê khái niệm “thực hiện pháp luật”, các van bản pháp luật chưa có quy định chính thức về khái niệm này, tuy nhiên các nhà khoa học pháp lý lại nghiên cứu rất nhiều, vi đây là một hoạt động rất quan trọng, song song, gan bó mật thiết với hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật trở thành một trong những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý.
Theo đó “thực hiện pháp luật” được định nghĩa là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [11]. Đây là cách định nghĩa chung nhất, được xác định là các hành vi của xã hội của các chủ thể pháp luật nhằm chuyền hóa các quy định của pháp luật vào hành vi thực tế của họ. Trong khoa học pháp lý đã công nhận hình thức thực hiện pháp luật gồm 4 hình thức là: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Trong bốn hình thức của thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật là hình thức có tính đặc thủ riêng không có tính phổ biến cho mọi chủ thé thực hiện như ba hình thức còn lại mà luôn luôn có hoạt động của các chủ thé có thâm quyền mang quyền lực nhà nước.
Day được cho là hình thức quan trọng, cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc. Theo từ điển Black’s Law, từ “Áp dung” có thé được hiểu theo nghĩa đưa vào sử dụng với một vụ việc của một chủ thé riêng biệt [43]. Trong tiếng việt, “áp dụng” được hiểu là “Dem dùng trong thực tế điều đã nhận thức được” [15]. Từ 2 cách hiểu trên, có thể hiểu “áp dụng pháp luật” là đem pháp luật ra dùng trên thực tế.
Tuy nhiên nếu hiểu theo cách nay thì áp dụng pháp luật có nội hàm tương đương với khái niệm thực hiện pháp luật, chứ không còn là một hình thức của thực hiện pháp luật mà cũng không thể hiện hết được đặc trưng riêng của hoạt động pháp luật là hoạt động mang quyền lực nhà nước. Đa số các nhà nghiên cứu coi áp dụng pháp luật chỉ là một trong các hình thức của thực hiện pháp luật, và định nghĩa áp dụng pháp luật trên cơ sở đề cập đến tat cả các đặc điêm của nó, các khái niệm của các nhà nghiên cứu này tuy có 10 đưa ra khác nhau về câu từ nhưng nhìn chung, áp dụng pháp luật được định nghĩa như sau: Áp dụng pháp luật được hiểu là hoạt động có tính tô chức, thể hiện quyên lực nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thâm quyên, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thé đối với cá nhân, tổ chức cụ thé [11] Từ khái niệm này có thê nhận thay “áp dụng pháp luật” có những đặc điểm: Thứ nhất, hoạt động áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước. Day là đặc điểm riêng biệt của áp dụng pháp luật so với 3 hình thức còn lại, cụ thể tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước được biêu hiện qua các khía cạnh sau: (i) Về chủ thé tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật, các chủ thé được xem là những cá nhân, cơ quan tô chức mang quyên lực nhà nước theo quy định của pháp luật. Mỗi cơ quan nhà nước hay các nhà chức trách có thâm quyền được giao một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định.
Trong một số trường hợp đặc biệt các tổ chức xã hội cũng có thé áp dụng pháp luật. Mỗi chủ thể áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo luật định. (ii) Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hay những người có thâm quyền, không có sự phụ thuộc vao ý chi của những chủ thể bị áp dụng. Thứ hai, hoạt động áp dụng pháp luật giúp điều chỉnh cá biệt, cụ thê đối với các trường hợp, chủ thé cụ thể.
Đối tượng của hoạt động này chính là những trường hợp, vụ việc cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định 11 được cá biệt hóa vào trong những sự việc cụ thể của cuộc sống. Kết quả của quá trình áp dụng pháp luật là chủ thể có thấm quyền nhân danh sử dụng quyền lực nhà nước dé ban hành những mệnh lệnh, quyết định, chế tài mang giá trỊ bắt buộc tôn trọng hoặc thực hiện đối với những cá nhân có liên quan. Văn bản áp dụng pháp luật có hai loại: văn bản xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể và văn bản bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật.
Trong những trường hợp cần thiết, các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật được nhà nước bảo đảm việc thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Đối với các văn bản áp dụng pháp luật được chủ thé có thâm quyền áp dụng pháp luật ban hành đề cụ thể hóa nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thé, thì có thé sẽ được các chủ thé tự giác thực hiện, tuy nhiên nhiều nghĩa vụ pháp lý áp dụng cho chủ thể nhưng chủ thể không thực hiện, buộc phải cưỡng chế nhà nước dé đảm bảo cho mệnh lệnh, quyết định được thực hiện nghiêm chỉnh. Thứ ba, hoạt động áp dụng pháp luật phải tuân theo quy trình chặt chẽ được quy định bởi luật. Cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật đều được quy định rõ ràng trong luật.
Dé tránh những tùy tiện, phiền nhiễu và tham nhũng của người thực thi có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật sai lầm, không chính xác, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó. Thứ tư, hoạt động ap dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi sự sang tạo va linh hoạt (trong phạm vi các quy định, nguyên tắc pháp luật). Vì áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng các quy phạm pháp luật dé giải quyết cụ thé xảy ra 12 trên thực tế, mà thực tế đời sống thì cực kì đa dang phong phú trong khi ma quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung, ngắn gọn, cô đọng, như một công thức chung dé áp dụng vao các tình huống khác nhau trên thực tiễn. Điều này đòi hỏi người có thâm quyền áp dụng pháp luật phải nghiên cứu chính xác, cụ thể, sáng tạo nhằm đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật đúng đắn đối với các tình huỗng khác nhau trên thực tế.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng sáng tạo, trên cơ sở pháp luật, lẽ công bằng. nhưng không phải là tùy tiện, tránh sự lạm quyền, lách luật làm ảnh hưởng quyền lợi của người bị áp dụng. Trong trường hợp không có quy định hoặc không rõ rang, thì phải áp dụng tương tự. Điều này cho phép lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật một cách hợp lý.
Muốn được như thế người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải là những nguoi nam vững chuyên môn, kiến thức pháp luật, có đạo đức, phẩm chất, có tính sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo. Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên rất quý giá mà nhân loại có được. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển xã hội, những nhu cầu của nhân dân đối với đất đai ngày càng nhiều khiến rất nhiều tranh chấp phát sinh. Vì vậy tranh chấp đất đai là hiện tượng xuất hiện bình thường trong đời sống xã hội, ở mọi thời kì lịch sử, bất kì một mâu thuẫn nhỏ nào liên quan đến đất đai cũng có thể tạo nên tranh chấp gay gắt, nảy lửa.
Bàn về khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ về tranh chấp đất đai đã được sử dụng trong Luật đất đai năm 1987 (tại các Điều 9, Điều 21, Điều 22) và Luật đất đai năm 1993 tuy nhiên chưa được giải thích chính thức trong một điều luật cụ thể mà chủ yếu được hiểu ngầm qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất 13 đai và các tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất [28] .