Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1. Khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai 1. Quan niệm về khiếu nại và khiếu nại về đất đai 1. Khiếu nại và quyền khiếu nại của công dân Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua việc sử dụng nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hòa được những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, bảo vệ được quyền lợi của giai cấp mình.
Tuy nhiên, bất kì nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội. Bởi, nếu không có dân thì cũng không có nhà nước. Do vậy, trong hoạt động của mình, mọi nhà nước đều có những quy định trong luật việc bảo vệ công dân của mình. Về phía người dân, dù người có hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dưới sự bảo hộ của nhà nước thì mọi quyền lợi của mình mới được bảo đảm, được bảo vệ.
Song, do bản chất của mỗi kiểu nhà nước khác nhau nên mức độ bảo hộ cũng có khác nhau. Mặt khác, bản thân nhà nước cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức nhà nước phải tuân thủ sự điều khiển, quản lý của nhà nước, không muốn bất kì ai, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước lại phá vỡ những quy định (pháp luật) mà nhà nước đã đặt ra. Thế nhưng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích, của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản lý mà một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm trọng những quy định của pháp luật, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội. Những sai lầm, vi phạm đó rất khó giữ kín.
Ở góc độ khác, mỗi công dân trong hoạt động thực tiễn của mình, dù ít, dù nhiều đều có quan hệ với bộ máy chính quyền nhà nước, với tổ chức xã hội và các công dân khác. Trong các quan hệ đó, có lúc, có nơi với nhiều lý do khác nhau, những người trong bộ máy 8 công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, và như vậy xuất hiện khiếu nại. Trong đời sống xã hội, khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước, người dân có quyền khiếu nại các cơ quan nhà nước để đòi lại sự công bằng cho bản thân, đó là lẽ đương nhiên mà bất kỳ người nào, thời đại nào cũng hiểu. Trong xã hội cũ, những hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội có một số người cho qua, bởi họ không tin vào sự phân xử công bằng của nhà nước.
Nhưng cũng có không ít người với trách nhiệm công dân đã dũng cảm ra khiếu nại hành vi sai trái đó để bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, tập thể và xã hội. Chính vì lẽ đó mà khiếu nại xuất hiện trong xã hội có giai cấp, có nhà nước là một tất yếu khách quan. Về mặt tâm lý, khiếu nại xuất hiện trong ý chí chủ quan của người đi khiếu nại. Trước hết những hành vi, hiện tượng vi phạm đó tác động vào nhận thức của người ta và chỉ khi người ta thấy ức chế, cần giải tỏa bằng cách bày tỏ với cơ quan nào đó để hy vọng được giải quyết thì họ mới yên lòng.
Yếu tố tâm lý này cũng lớn dần theo thời gian nếu như những khiếu nại đó không được xem xét giải quyết kịp thời. Tuy nhiên, trong nhận thức của mỗi người, do trình độ bản thân, nhãn quan, tư duy về vấn đề mà có người cho là vi phạm trầm trọng, có người cho là không vi phạm. Mặt khác, nhiều trường hợp do không ở trong hoàn cảnh cụ thể nên có người không hiểu được bản chất vấn đề, mới thấy hiện tượng đã suy luận ra bản chất theo tư duy cá nhân của mình. Trong xã hội có người nhút nhát, ngại va chạm, thậm chí đúng là lợi ích của mình bị vi phạm nhưng cũng không dám lên tiếng phản đối.
Ngược lại, cũng có những người luôn tưởng rằng, cho rằng mọi người đều sai, lợi ích của mình đã bị xâm phạm. Chính vì vậy mà khiếu nại còn là yếu tố tâm lý của con người. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “khiếu nại” được hiểu là: “thắc mắc, đề nghị xem lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã chuẩn y”. 9 Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học thì “khiếu nại” là: Những đề nghị của công dân, cơ quan, tổ chức với cơ quan nhà nước hoặc người có chức vụ về sự vi phạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của họ; khiếu nại được thể hiện dưới hình thức viết hoặc trình bày miệng.
Nếu là khiếu nại viết thì đơn khiếu nại phải được ký bởi chính người có quyền hoặc lợi ích bị vi phạm hoặc người giám hộ của người đó, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ (hoặc nơi công tác, học tập) [53; tr. Dưới góc độ chính trị - pháp lý, khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện bởi bộ máy nhà nước. Ở nước ta, từ năm 1959, Hiến pháp đã chính thức ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân. Cụ thể, Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại và tố cáo bất kỳ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước.
Các khiếu nại, tố cáo cần phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường” [18; tr. Theo thời gian, các quy định về quyền khiếu nại của công dân ngày càng được hoàn thiện. Nếu như Hiến pháp 1959 chỉ quy định “Công dân… có quyền khiếu nại và tố cáo bất kỳ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước…”, thì Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp (sửa đổi) 2013 đã mở rộng phạm vi quyền khiếu nại của công dân, đó là công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của “cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Ngoài ra, Hiến pháp 1992, Hiến pháp (sửa đổi) 2013 còn quy định rõ ràng, cụ thể hơn về vấn đề khiếu nại; theo đó, Hiến pháp các giai đoạn trước quy định công dân được khiếu nại ở “bất cứ cơ quan nhà nước nào” thì Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [21; tr.16], Hiến pháp (sửa đổi) 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, 10 cá nhân có thẩm quyền” [22; tr. Điều buộc cơ quan nhà nước phải có sự phân định rõ ràng thẩm quyền giải quyết khiếu nại của công dân theo từng ngành, từng cấp một cách có hệ thống. Như vậy, có thể khẳng định rằng quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp; là một trong những phương tiện để công dân, tổ chức sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; là “quyền để bảo vệ quyền”, là phương tiện đấu tranh để đảm bảo các quyền khác của công dân. Mặt khác, khiếu nại còn được coi là công cụ để công dân, tổ chức giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước.
Thông qua khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoàn thiện hoạt động quản lý của mình. Có thể nói, khiếu nại và giải quyết khiếu nại là chính là cầu nối giữa công dân với Đảng, Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dặn: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến quyền và lợi ích của họ, do đó mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được tốt hơn”.
Tóm lại, pháp luật về khiếu nại nước ta không ngừng phát triển, hoàn thiện về cả nội dung và hình thức. Đặc biệt, trong công cuộc đẩy mạnh cải cách nền hành chính thì việc đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại của công dân và hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại là cơ sở quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Khái niệm và đặc điểm khiếu nại về đất đai a) Khái niệm khiếu nại về đất đai Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Nếu không có đất đai 11 thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông và các công trình, dự án khác.
Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội… Vì vậy, hiện nay đất đai là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội, là vấn đề bức xúc nhất đối với người dân, do liên quan đến lợi ích của từng cá nhân, cũng như tổ chức và cộng đồng xã hội, đồng thời là lĩnh vực xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại nhất. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định chung thống nhất về thuật ngữ khiếu nại đất đai.