Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về công tác bồi thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất Công tác bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cƣ trên một phần đất nhất định đƣợc quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. Quá trình giải phóng mặt bằng đƣợc tính từ khi bắt đầu hình thành Hội đồng bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tƣ mới.
Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội. Công tác bồi thƣờng thiệt hại mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Trong đó bồi thƣờng thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng. Theo từ điển tiếng Việt thì đền bù có nghĩa là: “trả lại đầy đủ hoặc tƣơng xứng với mất mát hoặc sự vất vả” điều đó có nghĩa là: * Không phải mọi khoản bồi thƣờng đều bằng tiền; * Sự mất mát của ngƣời bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trƣờng hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cƣ; * Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cƣỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh”.
Không chỉ là một sự bồi thƣờng ngang giá tuyệt đối. Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác bồi thƣờng hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của ngƣời dân phải di chuyển. 8 z Đó là họ phải có đƣợc chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhƣng chắc chắn phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho ngƣời dân sống và ổn định 1. Vai trò của công tác bồi thƣờng đối với phát triển kinh tế - xã hội - Thƣ́ nhấ t , công tác bồi thƣờng , hỗ trợ và tái định cƣ là tấ t yế u trong quá trình phát triển đi đôi với xây dựng , phát triển kinh tế ; và mang tính quyết định tiến đô ̣ thƣ̣c hiê ̣n của các dƣ̣ án.
Viê ̣t Nam là nƣớc đang phát triể n tiế n hành công cuô ̣c công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa , viê ̣c đầ u tƣ xây dƣ̣ng , và phát triển đô thị ngày càng tăng nhanh và mạnh. Các dự án đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội phần lớn đò i hỏi quỹ đấ t nhấ t đinh ̣ để sƣ̉ dụng do đó có thể thấy công tác giải phóng mặt bằng là tất yếu , là điều kiện tiên quyế t của sƣ̣ phát triể n ; là yếu tố không thể thiếu đƣợc ; thâ ̣m chí đóng vai trò quyế t đinh ̣ đế n tiế n đô ̣ th ực hiện dự án. Dƣ̣ án có thành công hay không là do ảnh hƣởng rấ t lớn của viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n tố t công tác giải phóng mặt bằng. Do đó các nhà quản lý đô thi ̣cầ n quan tâm đế n công tác này.
- Thƣ́ hai, công tác giải phóng mặt bằng cò n góp phầ n thƣ̣c hiê ̣n quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch, sƣ̉ du ̣ng đấ t đai hơ ̣p lý. Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt xét trên cả phƣơng diện kinh tế – xã hội vì trong quá triǹ h sƣ̉ du ̣ng không bi ̣hao mòn mà sƣ̉ du ̣ng đúng cách thì giá trị càng tăng. Thƣ̣c hiê ̣n quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch đấ t đai là thƣ̣c hiê ̣n viê ̣c bố trí các khu đấ t ở các lĩnh vực , các vùng để phát triển các ngành nghề khác nhau nhƣ nông nghiệp , công nghiê ̣p , xây dƣ̣ng , dịch vụ hoặc là chuyển các loại đất khác nhau sang mục đích sƣ̉ du ̣ng khác nhau nên viê ̣c thay đổ i mu ̣c đích sƣ̉ du ̣ng đấ t là điề u tấ t yếu. Để đa ̣t đƣơ ̣c mu ̣c đić h đó thì không thể không có công tác giải phóng mặt bằng.
Đất đai thuô ̣c sở hƣ̃u của Nhà nƣớc , Nhà nƣớc thống nhất quản lý , Nhà nƣớc giao quyền sử dụng cho các tổ chức cá nhân , Nhà nƣớc có quyền định đoạt và thu hồi lại để phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng , lơ ̣i ić h quố c gia , lơ ̣i ić h công cô ̣ng. Khi thu hồ i đấ t Nhà nƣớc thƣ̣c hiê ̣n đề n bù bằ ng đấ t hoă ̣c bằ ng tiề n , trong đó đề n bù bằ ng 9 z đấ t đai là cách tố t nhấ t để sƣ̉ du ̣ng đấ t đai hơ ̣p lý và hiê ̣u quả hơn ; hỗ trơ ̣ cho ngƣời bị thu hồi tiếp tục canh tác sản xuất phục vụ đời số ng và nâng cao giá tri ̣của đấ t đai. - Thƣ́ ba, công tác đề n bù giải phóng mặt bằng nhằ m đảm bảo quyề n lơ ̣i và lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của cô ̣ng đồ ng cũng nhƣ của Nhà nƣớc. Luâ ̣t Đấ t đai quy đinh ̣ “đấ t đai thuô ̣c sở hƣ̃u toàn dân do N hà nƣớc đại diện chủ sở hữu ; Nhà nƣớc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thố ng nhấ t quản lý Nhà nƣớc về đấ t đai”.
Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt ; vì vậy, Nhà nƣớc nắm quyền quản lý v à quyền sở hữu, giao quyề n sƣ̉ du ̣ng cho các tổ chƣ́c , cá nhân nhằm phát huy tối đa sử dụng hiệu quả đất. Luâ ̣t Đấ t đai cũng quy đinh ̣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất sử dụng vào mục đích công cộng , lơ ̣i ích quố c gia , lơ ̣i ích công cô ̣ng Nhà nƣớc có trách nhiê ̣m bồi thƣờng thiệt hại. Nhƣ vâ ̣y Luâ ̣t Đấ t đai 2003 đã quy đinh ̣ rõ quyề n và lơ ̣i ić h của ngƣời sƣ̉ dụng đất đai cũng nhƣ trách nhiệm của Nhà nƣớc khi thu hồi đất là phải bồi thƣờng thiê ̣t ha ̣i đảm bả o lơ ̣i ić h của nhƣ̃ng ngƣời dân phải di chuyể n chỗ ở , ổn định cuộc số ng và sản xuấ t. Cơ sở pháp lý của việc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất Việc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất đƣợc xây dựng căn cứ vào những nền tảng lý luận cơ bản sau: Thứ nhất, căn cứ vào chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nƣớc là ngƣời đại diện.
Với tƣ cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng, đồng thời họ có quyền đƣợc hƣởng thành quả lao động, kết quả đầu tƣ trên đất đƣợc giao. Nhƣ vậy, quyền sử dụng đất đã đƣợc đại diện chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho ngƣời sử dụng đất, nó trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của ngƣời sử dụng đất. Khẳng định nhƣ vậy bởi lẽ, ngƣời sử dụng đất đƣợc pháp luật trao cho các quyền năng mở rộng trong quá trình thực hiện quyền sử dụng đất của mình nhƣ chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Với những quyền năng đƣợc ghi nhận và bảo hộ nhƣ vậy, dƣờng nhƣ ngƣời sử dụng đất ở Việt Nam đã là ngƣời đƣợc “sở 10 z hữu” một loại quyền về tài sản đó là “quyền sử dụng đất”.
Mặt khác, quyền sở hữu tài sản của công dân là một quyền năng đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo hộ, điều này đã đƣợc khẳng định tại đạo luật gốc đó là Hiến pháp. Thật vậy, điều 12 Hiến pháp 1946 quy định: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam đƣợc bảo đảm”. Tiếp đó, tại Hiến pháp 1992, điều 58 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tƣ liệu sinh hoạt, tƣ liệu sản xuất.Nhà nƣớc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”; Hiến pháp sửa đổi năm 2013 cũng đã quy định: “Mọi ngƣời có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tƣ liệu sản xuất,.Quyền sở hữu tƣ nhân và quyền thừa kế đƣợc pháp luật bảo hộ” (Khoản 1,2 - Điều 32 Hiến pháp 2013). Nhƣ vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đƣợc Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ.
Vì vậy, khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế thì giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi và toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi của ngƣời đang sử dụng đất sẽ đƣợc bồi thƣờng theo thời giá thị trƣờng. Thứ hai, căn cứ vào bản chất ƣu việt của nhà nƣớc ta. Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nƣớc do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Điều này đã đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nƣớc và các văn kiện của Đảng.
Nhà nƣớc theo đuổi sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn đó là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của nhân dân, của xã hội. Về cơ bản, lợi ích của Nhà nƣớc là đồng nhất với lợi ích của nhân dân. Vì vậy, Nhà nƣớc phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.