Đặt vấn đề Trong tình hình phát triển của nƣớc ta hiện nay, “sự phát triển kinh tế, đô thị và quá trình công nghiệp hóa làm cho nhu cầu về nhà ở cũng nhƣ đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nƣớc càng tăng cao”. Mặt khác ở nhiều vùng, nhiều khu vực của nƣớc ta vẫn còn tồn tại sự lạc hậu đói nghèo, trình độ văn hóa còn thấp sử dụng đất chƣa hợp lý. Việc sử dụng đất đai ở nhiều nơi còn chƣa phù hợp và chƣa đúng với quy hoạch, chƣa phát huy triệt để, đặc biệt là ở cấp cơ sở (xã, phƣờng, phƣờng). Do những nguyên nhân nhất định mà công tác quản lý đất đai ở nhiều nơi còn buông lỏng, hoặc biện pháp quản lý chƣa phù hợp, chƣa đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn.
Quản lý nhà nƣớc về đất đai tốt hay xấu có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trƣờng nhƣ: việc thu hút đầu tƣ (phụ thuộc vào quy định của nhà nƣớc, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tƣ, giá đất, tiến độ giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính…); sự ổn định chính trị - xã hội (liên quan đến thu nhập, việc làm của ngƣời dân, tình hình khiếu nại, tranh chấp đất đai…), chính vì thế, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với đời sống của mỗi ngƣời dân và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhà nƣớc ta đã ban hành Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 và ban hành Luật Đất đai năm 2003 cùng nhiều văn bản pháp quy dƣới luật nhƣ: Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tƣ hƣớng dẫn. đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất của quốc gia cũng nhƣ phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc trong thời kì đổi mới. Tuy nhiên trong thực tế quá trình thực hiện Luật đất đai cũng nhƣ các quy định khác vẫn còn nhiều hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện.
Nhiều văn bản tính chất pháp lý còn chồng chéo và mâu thuẫn. Do vậy, quản lý nhà nƣớc về đất đai 2 theo đúng pháp luật, đúng đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc là vấn đề cần đƣợc quan tâm và giải quyết. Phƣờng Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên cũng không nằm ngoài thực tế đó. Mặc dù trong thời gian qua đƣợc sự quan tâm của các cấp, các ngành song công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai còn gặp nhiều hạn chế khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động và cần đƣợc giải quyết trong thời gian tới.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, đƣợc sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trƣờng, sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Quang Thi em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai tại phường Thinh Đán, thành phố Thái Nguyênì, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai của phƣờng Thinh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Qua đó đề xuất những giải pháp khả thi để phục vụ cho quá trình quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao trong thời gian tiếp theo. - Đánh giá đƣợc những thành tựu và hạn chế để tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về đất đai trong thời gian tới.
Yêu cầu của đề tài - Giúp sinh viên biết cách nghiên cứu một vấn đề. Củng cố, bổ sung và vận dụng những kiến thức đã học ra ngoài thực tế. - Giúp sinh viên làm quen với môi trƣờng làm việc, công tác tại địa phƣơng. - Đƣa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai của phƣờng nói riêng và thị xã nói chung đƣợc tốt hơn.
Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Củng cố những kiến thức đã học và bƣớc đầu làm quen với công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai ngoài thực tế. - Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý Nhà nƣớc về đất đai của phƣờng Thịnh Đán từ đó đƣa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai của phƣờng đƣợc tốt hơn. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Những hiểu biết chung về quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nƣớc về đất đai nhằm bảo vệ quyền sở hữu nhà nƣớc đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng đất; đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của đất nƣớc; tăng cƣờng hiệu quả sử dụng đất; đồng thời bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trƣờng. Để thực hiện đƣợc những mục tiêu quan trọng về quản lý đất đai, Nhà nƣớc ta đề ra là: “Nhà nƣớc quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Nhà nƣớc ta đã ban hành rất nhiều văn bản trong đó nội dung của các văn bản luôn đi đúng trọng tâm, luôn định hƣớng phát triển theo con đƣờng XHCN. Hiến pháp năm 1980 và Luật Đất đai 1993; Luật Đất đai 2003 đều ghi rõ “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý (Luật dất đai 2003, Nxb Chính trị Quốc gia) [3].
Tại Luật Đất đai năm 1987 đã ban hành 7 nội dung về quản lý nhà nƣớc về đất đai nhƣ sau: - Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính. - Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. - Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ đấy. - Giao đất và thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai và cấp GCNQSD đất. - Thanh tra và chấp hành các chế độ, thể lệ quản lý, sử dụng đất. - Giải quyết các tranh chấp đất đai. Đáp ứng với yêu cầu mới, thời đại mới trong công tác quản lý đất đai, những nội dung trong Luật Đất đai năm 1987 đã có nhiều thiếu sót chƣa thể đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển về quản lý đất đai còn nhiều bất cập.
Năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi đã đƣợc ban hành và tại điều 13 quy định 7 nội dung quản lý nhà nƣớc về đất đai nhƣ sau: - Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính. 4 - Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. - Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó. - Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất và cấp GCNQSD đất (Luật Đất đai 1987, Nxb Chính trị Quốc gia) [2]. - Thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai. - Giải quyết các tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm việc quản lý sử dụng đất đai. Bảy nội dung này đã tạo ra cơ sở khoa học và tính pháp lý vững chắc cho công tác quản lý sử dụng đất.
Mặt khác, các nội dung này có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra những tiền đề bổ sung, hỗ trợ cho nhau nhằm thiết lập một cơ chế quản lý đất đai chặt chẽ thống nhất từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đảm bảo đất đai đƣợc sử dụng hợp lý, tiết kiệm, mang lại hiệu quả cao và bền vững theo thời gian. Hiện nay, Luật đất đai luôn đƣợc hoàn thiện để phục vụ cho hoạt động chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch sử dụng đất, các chính sách đất đai và chính sách xã hội. Đáp ứng yêu cầu trên, ngày 26/11/2003. Luật Đất đai 2003 ra đời và tại điều 6 Luật Đất đai 2003 đã quy định 13 nội dung về quản lý nhà nƣớc về đất đai , cụ thể: - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. - Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất. - Thống kê, kiểm kê đất đai. 5 - Quản lý tài chính về đất đai. - Quản lý và phát triển thị trƣờng quyền sử dụng đất trong thị trƣờng bất động sản.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất đai (Luật Đất đai 2003, Nxb Tư pháp, 2009) [4]. - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc hƣớng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003. Thông tƣ số 30/TT-BTN & MT ngày 01/11/2004 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng về việc hƣớng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Các loại bản đồ: Bản đồ địa giới hành chính 364; bản đồ giải thửa; bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2013, bản đồ quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015. Luật đất đai năm 2013 quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.