mở đầu cho hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới nay. - Ngày 01/07/1980 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/CP về việc Thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. - Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước. - Ngày 29/12/1987 Quốc hội thông qua Luật Đất đai đầu tiên và có hiệu lực thi hành từ ngày 08/01/1988.
- Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị về giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài, Nghị quyết là dấu mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp. 13 - Nghị định số 13 - HĐBT ngày 1/2/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất. - Nghị định số 30 - HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Luật Đất đai. - Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 - Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
- Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp. - Nghị định số 34/CP ngày 23/04/1994 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của bộ máy Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường). - Ngày 02/12/1998 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993. - Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 của Chính phủ quy định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyển sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 08/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất - Nghị Định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam - Ngày 29/06/2001 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993. - Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn 14 bằng giá trị quyền sử dụng đất. - Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003. - Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. - Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất. - Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. - Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. - Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai. - Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. - Nghị định số 102/2008/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường; - Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở số 56/2005/QH11 và Điều 121của Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 18 tháng 6 năm 2009; 15 - Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. - Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai được kịp thời, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất ở Việt Nam. Luật Đất đai 2003 đã quy định chi tiết, đầy đủ đảm bảo quản lý thống nhất toàn bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước theo quy hoạch và pháp luật, các văn bản dưới luật được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình quản lý sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích cho Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực bồi thường giải phòng mặt bằng. Đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong tình hình mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính Ranh giới hành chính được xác định bằng các yếu tố địa vật cố định hoặc các điểm mốc giới và được khoanh vẽ trên bản đồ. Thực hiện Chỉ thị số 364/CP ngày 6/11/1991, các địa phương trên cả nước đã tiến hành đo đạc, xác định địa giới hành chính trên cơ sở vùng lãnh thổ đã được xác định theo Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980. Tính đến 31/12/2008 toàn quốc có 63 Tỉnh, thành phố với tổng diện tích tự nhiên là 33. Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ công tác quản lý Nhà nước đối với địa giới hành chính.
Hồ sơ địa giới hành chính được xây dựng trên cơ sở Chỉ thị 364/CP đã được xây dựng hoàn thiện tới từng xã, phường, thị trấn. Cơ bản địa giới hành chính đã được xác định cụ thể, rõ ràng và được quản lý theo đúng quy định của Nhà nước. Bản đồ hành chính thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa 16 danh và một số yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Hiện nay toàn quốc cơ bản đã xây dựng xong hệ thống bản đồ hành chính của 63 tỉnh, thành phố.
Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập theo đơn vị hành chính. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sự phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ quy hoạch. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất giúp cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai nắm chắc các thông tin của từng thửa đất, cả về số lượng, chất lượng, diện tích, loại đất.
Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 2003, thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai đo đạc bản đồ giải thửa nhằm nắm lại quỹ đất toàn quốc Hệ thống bản đồ địa hình cơ bản tỷ lệ 1:50.000 phủ trên cả nước và phủ trùm các vùng kinh tế trọng điểm theo công nghệ số, hệ quy chiếu quốc gia VN-2000, hệ thống các điểm toạ độ, độ cao Nhà nước đã được ban hành và Chính phủ ra quyết định đưa vào sử dụng từ ngày 12/09/2000. Công tác đo đạc, hệ thống ảnh hàng không, ảnh vệ tinh phủ trùm cả nước. Đo đạc bản đồ địa hình đáy biển đã từng bước phát triển, chuẩn bị đủ cơ sở vật chất để triển khai trên diện rộng trong thời gian tới. Nghị định 73/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ về công tác phân hạng đất, tính thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Công tác phân hạng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp Nhà nước quản lý đất đai về mặt chất lượng. Đối với đất nông nghiệp, đánh giá phân hạng đất là một nhiệm vụ quan trọng và không thể thiếu được. Thông qua phân hạng đất Nhà nước xác định được từng hạng đất làm căn cứ 17 pháp lý quan trọng để tính thuế nông nghiệp, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất…đảm bảo công bằng cả về quyền lợi và nghĩa vụ cho người sử dụng đất. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Vì vậy, Luật Đất đai 2003 quy định "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật". Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là định hướng khoa học cho việc phân bổ sử dụng đất theo mục đích và yêu cầu của các ngành kinh tế, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của cả nước ở từng giai đoạn cụ thể. Quy hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 10 năm, kế hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 5 năm.