MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cần thiết đối mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi sinh sống, là địa bàn phân bố của nơi dân cư, lao động của con người và xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội quốc phòng an ninh. Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, về diện tích, có tính cố định về vị trí. Bất cứ quốc gia nào trên thế giới ,dù xác lập hình thức sở hữu tư nhân hay sở hữu toàn dân về đất đai thì nhà nước đều phải thực hiện việc quản lý đai.sự quản lý của nhà nước đối với đất dai mang tính tất yếu khách quan, mặt khác, đất đai còn là cơ sở để phát triển các hệ sinh thái, là một yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
Mặc dù có vai trò quan vô cùng quan trọng như vậy đất đai chỉ có thể phát triển được lợi thế vốn có của mình nếu nhận được sự tác động của con người một cách thường xuyên. Trong giai đoạn hiện nay, đất đai đang là một vấn đề hết sức nóng bỏng. Quá trình phát triển kinh tế xã hội đã làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày càng đa dạng. Các vấn đề trong lĩnh vực đất đai phức tạp và vô cùng nhạy cảm.
Do đó cần có những biện pháp giải quyết hợp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các đối tượng trong quan hệ đất đai. Nên công tác quản lý nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: Th.S Dương Hồng Việt, em tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh Giá Công Tác Quản Lý Nhà Nước về Đất Đai tại Xã Thụy Lôi-Huyện Tiên Lữ-Tỉnh Hưng Yên-Giai đoạn 2015-2017”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Thụy Lôi giai đoạn 2015-2017.
- Tìm hiểu công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã Thụy Lôi. - Làm rõ kết quả làm được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. - Phân tích được những nguyên nhân hạn chế còn tồn tại và đưa ra đề xuất các giải pháp giúp cho nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai ngày càng tiến bộ và đạt hiệu quả cao trên địa bàn Xã Thụy Lôi.Mục tiêu chung - Đánh giá kết quả công tác quản lý nhà nước về đất đai theo 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai Luật đất đai 2013 tại xã Thụy Lôi Giai đoạn 2015-2017 - Phân tích được nguyên nhân của những hạn chế tồn tại và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Thụy Lôi. Mục tiêu cụ thể - Xác định được ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tới công tác qyarn lý nhà nước về đất đai tại xã Thụy Lôi.
- Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai tại Xã Thụy Lôi Giai đoạn 2015-2017. - Nêu rõ hiện trạng sử dụng đất tại Xã Thụy Lôi. - Nắm được điều kiện tự nhiên của vùng. - Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của xã Thụy Lôi và đưa ra các đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đất đai của khu vực.
- Nắm bắt được thực trạng quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã Thụy Lôi. 3 - Đánh giá nội dung đã thực hiện hiệu quả và những nội dung quản lý còn yếu kém. - Đưa ra những giải pháp khắc phục khuyết điểm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước và đất đai.Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa của đề tài trong nghiên cứu khoa học Nhằm nâng cao kiếm thức đã học và củng cổng cố lại những kiến thức còn thiếu trong quá trình học tập, giúp cho sinh viên làm quen tốt hơn với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế. Trang bị cho sinh viên ra trường có kiến thức áp dụng vào thực tiễn phục vụ cho công tác quản lý sử dụng đất đai tốt hơn có hiệu quả hơn.
Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước về đất đai của thị Xã Thụy Lôi, nhằm rút ra được những tồn tại và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất đai 2. Những hiểu biết chung về công tác quản lý nhà nước về đất đai Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, đó là các hoạt động lắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Chức năng của quản lý Nhà nước về đất đai Thứ nhất: Nhà nước phải nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai. Thứ hai: Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất theo quy hoạch, kế hoạch chung thống nhất. Thứ ba: Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai. Thứ tư: Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai - Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước. - Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng. - Tiết kiệm và hiệu quả. Mục đích quản lý nhà nước về đất đai - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
5 - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất của quốc gia. - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất. - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường. Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai - Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai như phương pháp thống kê, phương pháp toán học, phương pháp điều tra xã hội học.
- Các phương pháp tác động đến con người trong quá trình quản lý đất đai như: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp tuyên truyền, giáo dục. Công cụ quản lý nhà nước về đất đai - Công cụ pháp luật: Pháp luật là công cụ không thể thiếu được của một Nhà nước, Nhà nước dùng pháp luật để tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của con người. - Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai: Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Vì vậy Luật Đất đai năm 2013 quy định “ Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch”.
- Công cụ tài chính: Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế. Tình hình nghiên cứu trong nước Để công tác quản lý đất đai phù hợp với tình hình mới, Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã góp phần vào vệc quản lý đất đai trong quá trình phát triển của đất nước. Công tác quản lý đất đai đã đáp ứng được phần nào yêu cầu và đạt được kết quả như sau: 6 2. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Trong thời gian qua, ở cấp trung ương, công tác quản lý nhà nước về đất đai đã tập trung triển khai thi hành các chính sách, pháp luật, theo dõi, đánh giá tình hình thi hành Luật Đất đai ở các địa phương, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc khó khăn; rà soát, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình 1 năm thực hiện Luật Đất đai; trình Chính phủ ban hành bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thi hành Luật và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Ban hành 5 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Luật và các nghị định quy định chi tiết thi hành. Triển khai kiểm tra việc triển khai thi hành Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Ở cấp địa phương, đã ban hành hơn 450 văn bản cơ bản hoàn thành việc ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật và các nghị định quy định chi tiết thi hành.
Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính Tại hầu hết các địa phương đã hoàn thành xong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Tổ chức tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ phân giới, cắm mốc địa giới hành chính và tuyên truyền nhân dân cùng bảo vệ. Công tác đo đạc bản đồ, lập bản đồ địa chính Trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, hệ thống ảnh hàng không, vệ tinh trùm phủ 90% diện tích cả nước, một mặt đáp ứng đo vẽ bản đồ địa hình, mặt khác sử dụng để thành lập nền bản đồ địa chính. Hệ quy chiếu quốc gia VN - 2000, hệ thống các điểm tọa độ, độ cao Nhà nước đã được hoàn thành và được Thủ tướng ra quyết định đưa vào sử dụng từ ngày 12/9/2000.
Đến nay, 7 đã hoàn thành và bàn giao lưới tọa độ hạng III cho tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo vẽ và thành lập bản đồ địa chính nói riêng và các loại bản đồ khác.