Chương 1: Tổ ng quan về quá trình thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p ở Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay Chương 2:Khái quát quá trình chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp phục vụ xây dựng KCN Quang Minh ta ̣i huyê ̣n Mê Linh , thành phố Hà Nô ̣i. Chương 3: Đánh giá sự thay đổ i chấ t lươ ̣ng cuô ̣c số ng do chuyể n đổ i sử du ̣ng đấ t nông nghiê ̣p cho xây dựng KCN Quang Minh của người dân huyê ̣n Mê Linh. 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.1Cơ sở lý luận của việc thu hồi đất nông nghiệp ở nƣớc ta 1.1 Khái niệm đất nông nghiệp và các vấn đề liên quan 1.1 Khái niệm đất nông nghiệp “Đất nông nghiệp là đấtđược xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sảnhoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”. [7] Phân loại đất nông nghiệp: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thuỷ sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ; 1.2 Vai trò của đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được của ngành nông– lâm nghiệp.Nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất.Đất nông nghiệp có vị trí cố định và không thể di chuyển được.
Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá to lớn đó, đất nông nghiệp là nguồn đất chính cung cấp đất phục vụ phát triển các khu đô thị và công nghiệp. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất cũng thay đổi theo hướng đất phi nông nghiệp tăng lên, đất nông nghiệp giảm dần.2 Khái niệm thu hồi đất Thu hồi đất là biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thể hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Thu hồi đất thể hiện dưới hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.Thu hồi đất cũng là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai.
Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai. Thu hồi đấtlà việc sử dụng quyền lực nhà nước để thu lại quyền sử dụng đất đã được giao cho cá nhân, tổ chức để nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước và xã hội. Việc thu hồi đất để phát triển mở rộng đô thị, phát triển nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một việc làm rất cần thiết. Nhưng vấn đề đặt ra chính là việc thu hồi đất nông nghiệp dẫn đến tình trạng người nông dân không còn đất để sản xuất, gây ra nhiều hậu quả xã hội phức tạp.
Phát triển mở rộng đô thị là rất cần thiết, song vấn đề an ninh lương thực không thể không tính đến. Hơn thế nữa, giải toả hết đất nông nghiệp, liệu đời sống nông dân có khá giả khi cầm trong tay mấy chục triệu đồng tiền bồi thường để rồi không biết làm gì có thu nhập, ổn định đời sống? Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần bảo đảm hài hoà giữa tài nguyên đất dành cho sản xuất nôngnghiệp và đất chuyển đổi cho các mục đíchphi nông nghiệp. Do đó, việc thể chế các chính sách về thu hồi đất, nhất là thu hồi đất nông nghiệp thành những quy định của pháp luật cần phải thận trọng, quan tâm đảm bảo đến đời sống của người nông dân, cũng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và sự bình ổn về kinh tế xã hội của đất nước. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.
Điều 16, Luật Đất đai 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất cụ thể như sau: 8 z “1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”.2 Cơ sở pháp lý của việc thu hồi đất nông nghiệp 1.1 Quy định về thu hồi đất nông nghiệp 1.1Quy định về điều kiện thu hồi đất nông nghiệp Khoản 1, 2, 3, Điều 62, Luật Đất đai 2013 quy định nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia , công cộng trong các trường hợp sau đây:Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, thực hiê ̣n các dự án do Thủ tướng Ch ính phủ chấp thuận , quyết định đầu tư , thực hiê ̣n các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Ngoài các dự án trên, đối với các dự án kinh tế khác, các nhà đầu tư buộc phải thương lượng thoả thuận với người đang sử dụng đất để thuê, chuyển nhượng.
Nhà nước chỉ hỗ trợ nhằm giúp các bên thực hiện các thủ tục chứ không ra quyết định thu hồi đất. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư có thể chủ động lựa chọn hình thức phù hợp để có quyền sử dụng đất mà không nhất thiết cứ chờ đợi từ Nhà nước.Hơn nữa, trong quan hệ sử dụng đất có thể hình thành các quan hệ dân sự về đất đai thay vì thực hiện bằng các quyết định hành chính. Mặt khác, có thể thấy rằng các nhà đầu tư có thể đi bằng con đường nhanh nhất và ngắn nhất để có quyền sử dụng đất như mong muốn. Đó chính là lý do Nhà nước cho phép nhà đầu tư tự tìm kiếm mặt bằng trong kinh doanh mà không phải thực hiện quy trình thu hồi đất.
Bên cạnh mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế, Nhà nước còn thu hồi đất để sử dụng vàomục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất do vi phạm pháp luật 9 z về đất đai và thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.2 Thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: + Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; + Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: + Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; + Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.3Trình tự thu hồi đất nông nghiệp Xuất phát từ tính chất đặc thù của các trường hợp thu hồi đất, Luật Đất đai 2013 quy định cụ thể tại các Điều 69,70,71. Trình tự, thủ tục thu hồi đất ở nhóm này gồm các bước cụ thể như sau: Bước 1: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm: UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất (UBND cấp tỉnh thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo…; UBND cấp huyện thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân…). Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp để thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc, xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp người sử dụng đất không 10 z phối hợp thì UBND cấp xã, Uỷ ban MTTQVN cấp xã vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện. Trong hạn 10 ngày, kể từ ngày vận động mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp để thực hiện nhiện vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc.
Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, nếu không thực hiện thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế đó. Bước 2: Lập, thẩm định phương án BT,HT,TĐC: Tổ chức làm nhiệm vụ BT,GPMB có trách nhiệm lập phương án BT,HT,TĐC và phối hợp UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án BT, HT, TĐC theo hình thức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết phương án tại UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư. Việc lấy ý kiến phải lập thành biên bản, có xác nhận đại diện UBND xã, Uỷ ban MTTQVN cấp xã và đại diện người có đất bị thu hồi.