Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Tổng quan về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm thu hồi đất Thu hồi đất là một biện pháp chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rõ quyền định đoạt đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai.
Trong Luật Đất đai năm 1993 đã đề cập vấn đề thu hồi đất nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất [17]. Theo từ điển thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp khác thì Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng. Khi Luật Đất đai ra đời thì thuật ngữ thu hồi đất đã được giải thích lại theo khoản 5 điều 4 luật đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai hiện hành” [18].
Trước khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành thì đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến cho rằng thuật ngữ “Thu hồi đất” chỉ thật sự phù hợp trong trường hợp Nhà nước thu hồi do vi phạm pháp luật và thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện, bởi lẽ khi nhà nước giao đất , cho thuê đất hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người dân hoặc tổ chức đã được xác lập quyền sử dụng với ý nghĩa là quyền tài sản tư (Điều 108 và Điều 164 Bộ Luật dân sự), trong quá trình sử dụng đất họ có quyền “định đoạt” quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…” Mặt khác, toàn văn Hiến pháp 6 năm 1992 không có quy định nào về việc nhà nước thu hồi tài sản của công dân và tổ chức. Vì vậy, các ý kiến cho rằng nhà nước chỉ nên áp dụng việc thu hồi đất đối với các trường hợp vi phạm pháp luật và một số trường hợp khác như thu hồi đất do việc mua bán đất không thực hiện được. Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế - xã hội, cần áp dụng cơ chế trưng mua quyền sử dụng đất thay thế cho cơ chế thu hồi đất [19].
Dựa trên những ý kiến quan điểm của các nhà khoa học, Luật Đất đai năm 2013 đã được quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực vào ngày 1/7/2014. Theo khoản 14 điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [17]. Như vậy có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.2 Tác động của thu hồi đất đối đời sống của người dân bị thu hồi đất Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, là nơi sinh sống của người dân. Mất đất đồng nghĩa với việc mất chỗ ở, mất nơi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc thu hồi đất ảnh hưởng theo hướng bất lợi đến người dân Trên phương diện chỗ ở Chỗ ở của người dân được coi là tài sản, môi trường, kinh tế, hoạt động xã hội của người dân ở đó. Khi thu hồi đất, Nhà nước đã thu hồi quyền sử dụng đất, chỗ ở, lối sống quen thuộc, các mối quan hệ hàng xóm láng giềng của người dân, buộc họ phải thay đổi hầu hết tất cả để sang địa bàn mới. Đối với những người lớn tuổi, những người đã gắn bó với chỗ ở của họ lâu năn thì đây là biến cố rất lớn, ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của họ. Hơn thế khi bị di dời đến chỗ ở mới với tâm lý không thoải mái, tâm lý bị thua thiệt, cảm thấy việc bồi thường của nhà nước chưa thích đáng, chính sách hỗ trợ sau khi thu hồi không được tốt thì rất dễ có phản ứng kích động tiêu cực với chính sách thu hồi của Nhà nước Trên phương diện tư liệu sản xuất 7 Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản xuất quan trọng của người dân.
Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường bằng diện tích khác những cũng làm người dân bị mất đất thua thiệt trên nhiều phương diện: mất địa thế kinh doanh quen thuộc, mất đi phần vốn đã đầu tư kinh doanh vào phần đất bị thu hồi. Chính vì vậy người dân thường có tâm lý không muốn giao đất cho Nhà nước nếu không được bồi thường xứng đáng. Hơn thế nữa, việc thu hồi đất cũng đồng nghĩa với việc mất việc làm gây tác động tâm lý không nhỏ cho người dân. Nếu nhà nước bồi thường cho họ diện tích đất ở nơi khác thì họ lại mất chi phí xây dựng và bắt đầu việc hoạt động sản xuất kinh doanh lại từ đầu với nhiều rủi ro liệu việc kinh doanh mới có thành công, có thể thu lợi nhuận.
Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là tư liệu tiêu dung đối với con người, do vậy khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất bị mất tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng nên họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn như mất công ăn việc làm, mất nơi ở. Để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất và đời sống thì bên cạnh việc bồi thường, Nhà nước phải thực hiện việc hỗ trợ. Luật Đất đai năm 2013 nêu rõ “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” [17] Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đều là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Biện pháp hỗ trợ của Nhà nước chỉ phát động sau khi có quyết định thu hồi đất.
Việc Nhà nước thu hồi đất là xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội, của đất nước. Nhà nước thay mặt xã hội thực hiện trách nhiệm của mình, Nhà nước không chỉ bồi thường mà còn thực hiện những chính sách hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi. Chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất bao gồm: hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc và các hỗ trợ khác. Tóm lại có thể hiểu khái niệm hỗ trợ sau khi thu hồi đất là việc Nhà nước giải quyết các hệ quả xảy ra sau khi bồi thường số đất đã thu hồi của người dân.
Việc hỗ trợ cũng có thể xem là hoạt động bù đắp vào những khoảng trống mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết được. Bởi vì khi Nhà nước thu hồi đất thì tác động của việc thu hồi đất đối với người dân là rất lớn. Ngoài các thiệt hại về giá trị quyền sử dụng 8 đất, các công trình xây dựng trên đất, cây trồng vật nuôi còn là các giá trị tinh thần vô hình như người dân mất đi cuộc sống ổn định, mất tư liệu sản xuất gắn bó từ bao đời, phải học nghề mới, đổi việc làm. Những tác động tâm lý đối với việc thu hồi đất là không hề nhỏ.
Ý nghĩa của việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quan hệ đất đai của tổ chức, hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất rất khó khăn và phức tạp. Việc giải quyết vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là rất khó khăn và phức tạp. Do vậy, việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất mang ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều phương diện [6].
Thứ nhất, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bù đắp lại khoản lợi ích vật chất mà người có đất bị thu hồi bị mất bởi lẽ họ là người có quyền sở hữu quyền sử dụng đất trong trường hợp này và nhà nước đảm bảo quyền sử dụng đất đó cho họ. Đồng thời, chính sách này tạo cơ sở pháp lý cho người bị thu hồi đất được nhà nước bảo vệ khi quyền lợi của họ có thể bị xâm phạm một cách trái pháp luật của các chủ thể khác trong xã hội. Mặt khác, việc áp dụng các chính sách hỗ trợ hợp lý trong trường hợp này vừa giúp người dân có được sự ổn định cuộc sống, nơi ăn chốn ở và tâm lý ổn định, vừa giúp cho việc triển khai giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án của nhà đầu tư được thực hiện nhanh chóng hơn. Thứ hai, mục đích cuối cùng cần hướng tới khi xây dựng các quy định về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ chính là hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của người có đất bị thu hồi.
Nếu như các quy định về hỗ trợ chỉ đảm bảo lợi ích cho người dân mà bỏ qua lợi ích của các nhà đầu tư thì việc thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội sẽ khó có thể thực hiện được. Ngược lại, nếu như người có đất bị thu hồi mà không được bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng thì việc THĐ chẳng khác nào đẩy họ vào tình trạng mất đất, mất chốn an cư lạc nghiệp, mất việc làm,.