Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người đó là món quà vô giá. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là sự sống là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường hoạt động sản xuất, một bộ phận quan trọng của môi trường sống. Đất đai là nơi con người xây dựng nhà cửa và các công trình khác phục vụ cuộc sống con người. Đối với nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là công cụ lao động, là nơi con người dùng để trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp lương thực thực phẩm cho cuộc sống của con người.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ thống quản lý Nhà nước và điều hành xã hội. Do vậy, thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân sẽ củng cố và tăng niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Phường Hoàng Văn Thụ là một trong những phường trung tâm của thành phố Thái Nguyên, với diện tích 157,73 ha, trên địa bàn hiện có hơn 1000 hộ kinh doanh cá thể, gần 200 cơ quan, doanh nghiệp, trường học và nhiều công trình kiến trúc văn hóa tín ngưỡng, di tích lịch sử. Trong đó, việc giải quyết khướu nại tố cáo còn nhiều bất cập việc tranh chấp đất đai về số đơn thư tố cáo là rất nhiều, gây nhiều bức xúc.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó cùng với sự giúp đỡ của khoa Quản lý tài nguyên đồng thời được sự quan tâm của cô giáo Th.S Ngô Thị Hồng Gấm. Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2013-2015”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ giai đoạn 2013 – 2015.
Từ đó tìm ra những khó khăn hạn chế trong công tác, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của phường để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này cho phường Hoàng Văn Thụ trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay. - Các số liệu, tài liệu phản ánh chính sách các yếu tố ảnh hưởng tới giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp đất đai. - Tổng hợp và phân tích được những thuận lợi khó khăn, ưu điểm khuyết điểm trong quá trình thực hiện công tác đồng thời đề xuất và kiến nghị một số giải pháp để giải quyết các tranh chấp về đất đai, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
- Nắm chắc các quy định về trình tự thủ tục trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai.Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học: trong quá trình học tập và nghiên cứu, giúp sinh viên chủ động làm quen nắm bắt kết hợp những gì đã học được trong nhà trường áp dụng vào thực tiễn. - Ý nghĩa thực tiễn: đánh giá được thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay và góp phần nhỏ vào công cuộc nâng cao hiệu quả công tác đánh giá đúng pháp luật. Hạn chế thấp nhất hành vi vi phạm luật đất đai, phục vụ việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Ngay từ ngày giành độc lập 1945, đảng và nhà nước đã quan tâm ngay đến việc quản lý và sử dụng các loại đất đai như đất ở, đất nông nghiệp, đất công nghiệp. với các luật được đưa ra: Luật đất đai 1988, luật đất đai 1993, luật đất đai 2003 và mới đây là luật đất đai 2013 cùng với sự thay đổi liên tục nhằm hoàn thiện các chính sách về đất đai cũng như các chính sách phát triển khác để sao cho phù hợp với tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của nước ta hiện nay [5]. Với diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là 331.212 km², trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.560 ha, dân số là 80.4 triệu người, bình quân đất tự nhiên trên đầu người là 4.9 m2 bằng 1/7 mức bình quân thế giới, đi kèm với sự phát triển không ngừng đó không thể tránh khỏi các tranh chấp về đất đai có thể phát sinh do lịch sử ,các chính sách, chế độ từ chước để lại với đó là sự gia tăng dân số nhanh chóng đất đang là vấn đề nóng hổi của Việt Nam nói chung và thế giới nói riêng. Các mâu thuẫn về đất đai đó được thể hiện thông qua các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.
Căn cứ pháp lý - Luật đất đai 2003 - Luật đất đai 2013: Luật đất đai số 45/2013/QH13 được thông qua vào ngày 29 tháng 1 năm 2013 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2014, thay thế luật đất đai 2003. - Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 của Chính phủ. (Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001. Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003.
- Nghị Định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; c 4 - Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005. Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 6 năm 2004. - Luật Khiếu nại năm 2011 - Luật Tố cáo năm 2011 - Thực hiện tốt tinh thần Thông báo Kết luận số 130-TB/TW, ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị “Về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới”; - Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 2004, năm 2005. - Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại.
- Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo. - Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới công tác tiếp công dân. - Các Thông tư của Thanh tra Chính phủ: Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15/12/2009 Quy định Quy trình giải quyết tố cáo; Thông tư 04/2010/TT- TTCP ngày 26/08/2010 Quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo. c 5 - Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 22/12/2010 của Tỉnh ủy về chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2010-2015.
Một số quy đinh trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 2. Tranh chấp về đất đai 2. Khái niệm Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai bên hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (khoản 24 điều 3 trong luật đất đai 2013) 2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai -Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi các tranh chấp mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50.
Đối với người dân, khi có tranh chấp về đất đai mà không có giấy chứng nhận và hoặc các giấy tờ theo quy định thì cũng không có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết nào khác ngoài UBND và cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường. Quy định này đã phần nào làm hạn chế quyền lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp của người dân, vừa tăng áp lực lên các cơ quan hành chính nhà nước. - Những hạn chế trên đã được khắc phục bằng những quy định tại Luật Đất đai 2013. Tại khoản 1 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
Các giấy tờ quy định tại điều 100 Luật Đất đai 2013 vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 điều 50 Luật Đất đai 2003 và có sự bổ sung thêm một số trường hợp đó là: c 6 - Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ. - Giấy tờ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành; - Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này. -Tại khoản 2 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.