Chương 1: Những vấn đề chung về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Chương 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới pháp luật về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH 1. Khái niệm và những đặc trƣng cơ bản của DNNN 1.
Khái niệm DNNN DN - một loại chủ thể kinh doanh chủ yếu, có vai trò quan trọng và không thể thiếu đối với sự hình thành và phát triển của bất kỳ nền kinh tế thị trường nào. Nó cũng là một đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có những cách lý giải, những quan niệm khác nhau về khái niệm DN. Tuy nhiên, theo quan niệm chung nhất, thì DN là một tổ chức kinh tế được thành lập để tiến hành các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, chế biến, chế tạo sản phẩm hoặc mua bán hàng hoá, làm dịch vụ cung ứng nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường, xã hội. Thông qua đó, DN có thể đạt được nhiều mục đích khác nhau, trong đó có mục đích căn bản là thu lợi nhuận.
Trong thực tiễn đời sống kinh tế và pháp lý ở nước ta, cùng với sự hình thành nền kinh tế thị trường, thuật ngữ DN được chính thức sử dụng lần đầu tiên trong Luật Công ty được Quốc hội thông qua ngày 21. Điều 3 Luật này định nghĩa “DN là một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khi Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12.1999 thì thuật ngữ DN một lần nữa đã được khẳng định và giải thích rõ hơn. Điều 3 Luật Luật doanh nghiệp định nghĩa: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh”.
Hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, theo cách định nghĩa của Luật doanh nghiệp, DN được hiểu là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DNNN trước hết được hiểu là một loại hình DN của Nhà nước. Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn khái niệm DNNN với khái niệm DN nói chung theo Luật DN năm 1999 bởi vì thuật ngữ DNNN được sử dụng để phân biệt với các loại hình DN khác cùng tồn tại trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Khái niệm DNNN ở nước ta cũng như ở các nước khác trên thế giới đều có những tiêu chí khác so với khái niệm DN nói chung. Xét về mặt lý luận, cho đến nay, trên thế giới vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về DNNN. Tuỳ theo những đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của riêng mình mà mỗi quốc gia đưa ra những tiêu chí khác nhau để xác định DNNN. Chẳng hạn, có người định nghĩa DNNN xuất phát từ mục đích thành lập, có người định nghĩa căn cứ vào cơ cấu tổ chức, mức độ vốn của Nhà nước trong DN… Theo khái niệm của Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới cũng như của Quỹ tiền tệ Quốc tế, DNNN là đơn vị SXKD do Nhà nước thành lập, đầu tư, xây dựng.
Nhà nước có quyền chi phối hoạt động SXKD dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Tức là coi các DNNN là thực thể kinh tế thuộc sở hữu nhà nước và chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nưóc đối với quá trình hình thành và hoạt động của DNNN. Theo đó, DNNN là "những DN do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của DN"3. Một số nhà kinh tế học cho rằng: DNNN được coi là một tổ chức trong đó kết hợp những yếu tố công ích và những yếu tố DN.
Nói cách khác, DNNN tự nó vừa có chức năng phục vụ, vừa có chức năng kinh doanh với tư cách là một đơn vị kinh tế. Cụ thể: Những yếu tố “công ích” phản ánh chức năng phục vụ, bao gồm: - Những quyết định về kinh doanh và hoạt động chính do các tổ chức Nhà nước đảm nhận mà tiêu chí quan trọng trong các quyết định này không thuần tuý chỉ là mục tiêu lợi nhuận. - Lợi nhuận thu được là của Nhà nước chứ không thuộc về một nhóm cá nhân nào khác. 3 Nguồn: Báo cáo về tình hình Kinh tế -xã hội thế giới năm 1985 của Liên hợp quốc.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - DN chịu trách nhiệm về việc bảo đảm các lợi ích xã hội trong phạm vi hoạt động của mình. Như vậy, yếu tố “công ích” trong DNNN là đặc điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt của DNNN với các loại hình DN khác trong nền kinh tế cũng như vai trò của Nhà nước trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh tế thông qua hệ thống DN của mình với tư cách của người điều tiết, đảm bảo các lợi ích kinh tế - xã hội của cộng đồng. Những yếu tố “DN”, phản ánh chức năng kinh doanh bao gồm: - DN có thể tồn tại về mặt tài chính một cách dài hạn và hoạt động theo các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. - Giá cả phải được thiết lập trên cơ sở chi phí.
Yêu cầu này xuất phát từ đòi hỏi giá cả phải bù đắp được toàn bộ chi phí. Mặc dù có sự khác nhau nhất định trong quan niệm, nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, DNNN chính là một bộ phận của hệ thống DN nói chung, được hình thành và phát triển trong nền kinh tế của từng quốc gia trên thế giới và được xác định trên cơ sở 3 tiêu chí chủ yếu như sau: Thứ nhất, về quyền sở hữu tài sản của DN: Nhà nước là chủ sở hữu hoặc là cổ đông chính, cổ đông có cổ phần chi phối trong DN. Theo đó, Nhà nước có thể thực hiện quyền kiểm soát những chính sách chung mà DN theo đuổi, có thể bổ nhiệm hoặc cách chức Ban quản lý DN. Thứ hai, về chức năng, nhiệm vụ: DNNN được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước trên nguyên tắc đảm bảo những lợi ích chung, lợi ích xã hội.
Thứ ba, về trách nhiệm của DN trong việc quản lý, thu chi tài chính: DNNN cũng như các loại hình DN khác trong nền kinh tế, phải chịu trách nhiệm độc lập về hạch toán, thu chi tài chính trong hoạt động SXKD của mình. Một DN nếu thiếu điều kiện thứ nhất sẽ là DN ngoài quốc doanh. Nếu thiếu điều kiện thứ hai thì chỉ được coi như những DN kinh doanh đơn thuần và nền kinh tế sẽ thiếu sự cạnh tranh lành mạnh nếu Nhà nước sử dụng vốn của mình để tiến hành những hoạt động SXKD thuần tuý. Mặt khác, một 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DNNN không chịu trách nhiệm độc lập về tài chính sẽ không còn được coi là một DN nữa mà chỉ có thể được xem là tổ chức công cộng hay tổ chức sự nghiệp của Nhà nước.
Tuy nhiên, tuỳ theo chính sách kinh tế-xã hội của mỗi nước, những tiêu chí cụ thể để xác định DNNN có những khác biệt.Ví dụ, xét trên tiêu thức về quyền sở hữu của Nhà nước, DNNN ở các nước như Úc, Tây Ban Nha thì Nhà nước phải chiếm trên 50 % giá trị tài sản của DN, trong khi đó, ở Italia là 25%, ở Malaysia là 20% và ở Hàn Quốc chỉ là 10%. ở Việt Nam, việc xác định DNNN cũng có những tiêu chí riêng biệt so với tiêu chí của các quốc gia khác trên thế giới. Trước khi Luật DNNN ra đời, thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định 388/HĐBT ngày 20.1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Qui chế về thành lập và giải thể DNNN. Điều 1 của Nghị định số 388 đã định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu”.
Theo đó DNNN được xác định dựa trên những tiêu chí sau: - Về hình thức sở hữu về vốn: DNNN được Nhà nước đầu tư vốn và là chủ sở hữu toàn bộ số vốn của DN. - Về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức: DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập, tổ chức bộ máy quản lý DN, định hướng hoạt động SXKD, DNNN được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế-xã hội do Nhà nước giao. - Về chế độ quản lý thu chi tài chính: DNNN thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh như các loại hình DN khác và chịu trách nhiệm độc lập trong phạm vi phần vốn Nhà nước giao. Như vậy, theo Nghị định trên, mục đích hoạt động của DNNN được đồng nhất và có chung mặt bằng pháp lý với các DN khác là cùng kinh doanh vì lợi nhuận và vì thế, chưa thể hiện được vị trí vai trò của DNNN là một bộ phận của hệ thống kinh tế Nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, cũng như chưa thể hiện tính chất đặc biệt của DNNN là công cụ để 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước điều tiết nền kinh tế và hoạt động của DNNN không chỉ đơn thuần vì mục đích kinh tế mà còn nhằm đảo bảo những lợi ích xã hội.
Để khắc phục những hạn chế trên, Điều 1, Luật DNNN được Quốc hội nước ta thông qua ngày 20 tháng 04 năm 1995 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam”.