Chương 1 đã giới thiệu một số thông tin cơ bản về DNNN trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; trình bày sơ nét về phương pháp nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. LV Quản lý kinh tế 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH. Hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp: 2. Khái niệm: Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh với cách tiếp cận và những tiêu chí khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Adam Smith: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Như vậy, hiệu quả được xem xét như là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Một số nhà quản trị học như Manfred Kuhn cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó". Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế.
LV Quản lý kinh tế Xuất phát từ luận điểm triết học Mác - Lê nin và những luận điểm có lý thuyết hệ thống: "Hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ và khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối như thế nào." Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh: 2. Lợi nhuận sau thuế: 8 Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp và được xác định như sau: Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Nếu chỉ xét chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế để đánh giá hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp thì chưa toàn diện, bởi vì nó chưa phản ánh được quy mô của doanh nghiệp, rất khó để đánh giá hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp khi so sánh với các doanh nghiệp khác với cùng mức sinh lời. Do đó, cần nghiên cứu thêm các chỉ tiêu như sau: 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): LV Quản lý kinh tế Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản ROA cao phản ánh kết quả hoạt động tốt, doanh nghiệp có một danh mục tài sản phù hợp và sử dụng có hiệu quả. Ngược lại, ROA thấp thể hiện doanh nghiệp sử dụng tài sản chưa hiệu quả.
Có thể nói ROA là một thông số đo lường tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị doanh nghiệp trong quá trình chuyển tài sản của doanh nghiệp thành thu nhập. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu 9 ROE là chỉ số tài chính đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ số ROE càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn chủ sở hữu của minh để đạt lợi nhuận cao và ngược lại. Lợi nhuận sau thuế bình quân cho một lao động: Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế bình quân cho một lao động = Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh theo cách LV Quản lý kinh tế tiếp cận phi tham số (Data Envelopment Analysis - DEA). Giới thiệu chung: Ý tưởng DEA được khởi đầu bởi Michael James Frarrel (1957) khi ông đưa ra ý tưởng xác định hiệu quả và năng suất của một doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực nhất định dựa trên đường giới hạn khả năng sản xuất của toàn bộ lĩnh vực đó (Production frontier). Tuy nhiên, đến khi Charnes, Cooper và Rhodes (1978) áp dụng Quy hoạch tuyến tính vào giải quyết bài toán Farell thì phương pháp phân tích bao dữ liệu mới thực sự ra đời. Phương pháp của Charnes, Cooper và Rhodes là dựa trên việc áp dụng quy hoạch tuyến tính để tìm ra những bộ trọng số thích hợp nhằm tối ưu hóa hiệu năng của từng doanh nghiệp, sau đó từ các doanh nghiệp có hiệu năng cao nhất sẽ xây dựng được đường giới hạn khả năng sản xuất này (hiệu quả tương đối).
Như vậy, 10 các doanh nghiệp nằm trên đường giới hạn có hiệu quả tối ưu (100% hay 1 điểm), các doanh nghiệp còn lại là không hiệu quả (< 100% hay 1 điểm). Với ưu điểm là không yêu cầu các giả định nào liên quan đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, phương pháp DEA cho phép các nhà nghiên cứu có thể lựa chọn các biến đầu vào, biến đầu ra cho phù hợp với mục đích nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp DEA có khả năng phân tích một số lượng lớn các yếu tố đầu vào và đầu ra để đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng như mọi cách tiếp cận đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phương pháp DEA cũng có hạn chế nhất định: Kết quả đo được mang tính tương đối do việc ước lượng hiệu quả thu được bằng cách so sánh với các doanh nghiệp trong phạm vi mẫu nghiên cứ.
Vì vậy, khi đưa thêm doanh nghiệp vào phân tích có thể dẫn đến giảm các giá trị hiệu quả. Điều này dẫn đến, một doanh LV Quản lý kinh tế nghiệp hiệu quả trong mẫu nghiên cứu này nhưng lại không hiệu quả trong mẫu nghiên cứu khác. Phương pháp tiếp cận: Theo M. Farrell (1957), The Measurement of Productive Efficiency, Journall of theo Royal Statistical Society.
3, 253- 290: (i) Trường hợp doanh nghiệp sử dụng một yếu tố đầu vào X để tạo ra một yếu tố đầu ra Y: Giả sử muốn đánh giá m đơn vị, cho M= {1, 2, 3,., m), M biểu thị tập hợp các đơn vị được so sánh. Nếu các đơn vị sản xuất một đầu ra chỉ sử dụng một đầu vào, hiệu quả của đơn vị ra quyết định thứ j, j ∈ M được định nghĩa như sau: 11 𝑦𝑗 EFj= 𝑥𝑗 Trong đó: yj: giá trị đầu ra được sản xuất bởi đơn vị j; xj: giá trị đầu vào được sử dụng bởi đơn vị j. (ii) Trường hợp có j doanh nghiệp sử dụng a yếu tố đầu vào (X) để tạo ra b yếu tố đầu ra (Y) Farrell đã mở rộng công thức nêu trên trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều yếu tô đầu ra khi sử dụng nhiều yếu đầu vào. Hiệu quả của doanh nghiệp thứ j được xác định là tỷ số giữa một tổng các yếu tố đầu ra theo trọng số và một LV Quản lý kinh tế tổng đầu vào theo trọng số: Ký hiệu: A = {1, 2, 3,.a} là tập hợp các yếu tố đầu vào.b} là tập hợp các yếu tố đầu ra tương ứng.
Nếu xij, i ∈ A (thể hiện số lượng yếu tố đầu vào i được sử dụng bởi doanh nghiệp thứ j) và yrj, r ∈ B (thể hiện số lượng yếu tố đầu ra được sản xuất bởi doanh nghiệp thứ j), thì hiệu quả của doanh nghiệp thứ j được xác định như sau: 𝑢1 𝑦1𝑗 +𝑢2 𝑦2𝑗+⋯+ 𝑢𝑏 𝑦𝑏𝑗 ∑𝑏 𝑢𝑟 𝑦𝑟𝑗 EFj = = ∑𝑟=1 𝑎 𝑣1 𝑦1𝑗 +𝑣2 𝑦2𝑗 +⋯+ 𝑣𝑎 𝑦𝑎𝑗 𝑖=1 𝑣𝑖 𝑥𝑟𝑖𝑗 Trong đó: 12 u1, u2,., ub: tỷ trọng của các yếu tố đầu ra; v1, v2,., ua: tỷ trọng của các yếu tố đầu vào. Bằng cách tính toán hệ số hiệu của từng doanh nghiệp, ta xác định được doanh nghiệp hiệu quả nhất (EFj = 1) sẽ hình thành nên được bao dữ liệu, trong khi các doanh nghiệp còn lại kém hiệu quả hơn (EFj <1) sẽ không nằm trên đường bao dữ liệu. (iii) Ứng dụng phương pháp DEA: - Phương pháp DEA có thể được ứng dụng với hai giả định như sau: + Hiệu quả không đổi theo quy mô (Constant Returns to Scale - CRS): Khi gia tăng các yếu đầu vào thì sẽ dẫn đến sự gia tăng tương ứng các yếu tố đầu ra. LV Quản lý kinh tế + Hiệu quả thay đổi theo quy mô (Variable Returns to Scale - VRS): Khi gia tăng các yếu tố đầu vào thì sẽ dẫn đến sự gia tăng ít hơn hay nhiều hơn các yếu tố đầu ra.
- Phương pháp DEA đo lường hiệu quả thông qua 03 yếu tố như sau: + Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE): Xác định dựa trên giả định CRS. + Hiệu quả kỹ thuật thuần (Pure Technical Efficiency - PTE): Xác định dựa trên giả định VRS. + Hiệu quả quy mô (Scale Efficiency - PE) = TE/PTE. Nếu TE = PTE thì SE = 1, điều này có nghĩa là hiệu quả không bị ảnh hưởng bởi quy mô hoạt động.
Ước lượng nhân tố năng suất tổng hợp bằng chỉ số Malmquist trong DEA: - Bên cạnh việc tính toán hiệu quả kỹ thuật tại một thời điểm nhất định, việc tính toán hiệu quả theo thời gian cũng quan trọng không kém. Sự so sánh các mức hiệu quả giữa các giai đoạn khác nhau giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn rõ nét hơn về sự thay đổi của hiệu quả theo thời gian, từ đó có thể đánh giá về những thay đổi trong các giai đoạn đó có tác động thế nào tới hiệu quả, cũng như có thể phần nào dự báo được biến động của hiệu quả trong tương lai. - Chỉ số năng suất nhân tố Malmquist do Pastor và Lovell (2005) xây dựng và được Oh và Lee (2010) phát triển. Chỉ số Malmquist bao gồm các thành phần như sau: + Thay đổi hiệu quả (Efficency change - Effch); LV Quản lý kinh tế + Thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần túy (Pure efficency change - Pech); + Thay đổi hiệu quả quy mô (Scale efficiency change - Sech); + Thay đổi công nghệ (Technological change - Techch); + Thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp (Total factor productivity change - Tfpch).
Tfpch = Effch x Techch = (Pech x Sech) x Techch Chỉ số Malmquist nhỏ hơn 1 ngụ ý rằng năng suất của doanh nghiệp kém, còn lớn hơn 1 có nghĩa là năng suất doanh nghiệp được cải thiện. Một số công trình nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp.