Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong quá trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam, doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN) giữ vai trò lực lượng hỗ trợ Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và đóng góp ngân sách. DNCVNN nắm giữ khoảng 33% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp gần 30% GDP. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ: tiến độ tái cơ cấu và cổ phần hóa còn chậm, tỷ lệ vốn được cổ phần hóa thấp, quản trị doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, đầu tư kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh giảm sút, xuất hiện tình trạng thất thoát và lãng phí.
Một trong những nguyên nhân căn bản của tình trạng trên là mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các DNCVNN chưa hoàn thiện và hoạt động chưa hiệu quả. Mặc dù chủ trương tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu nhà nước đã được Đảng và Nhà nước đề ra từ năm 2001, nhưng việc triển khai thực tế diễn ra chậm chạp. Đến năm 2018, việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp mới cơ bản thực hiện việc tập trung hóa quyền đại diện chủ sở hữu đối với 19 tập đoàn, tổng công ty. Dù vậy, mô hình mới này đã bộc lộ những bất cập như sự chậm trễ, lúng túng trong việc ra quyết định đầu tư, xây dựng chiến lược, thiếu hụt nhân lực điều hành, tiến trình thoái vốn và cơ cấu lại diễn ra chậm. Đồng thời, quyền đại diện chủ sở hữu tại nhiều doanh nghiệp vẫn phân tán tại các bộ, ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) và chính quyền địa phương (UBND thành phố Hà Nội, UBND Thành phố Hồ Chí Minh và các công ty xổ số tại 63 tỉnh, thành phố). Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất được đặt ra là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện ở cấp độ luận án tiến sĩ nhằm xác lập luận cứ khoa học, đúc rút kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp hoàn thiện đồng bộ mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam cho giai đoạn đến năm 2030.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN; phân tích, đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam giai đoạn 1995–2020; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình này trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, hệ thống hóa và bổ sung làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở một số quốc gia trên thế giới, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1995–2020, xác định các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân tồn tại.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam đến năm 2030.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam, trọng tâm là cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.
- Phạm vi nội dung: Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, sự phối hợp và nguồn lực con người nhằm thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước. Luận án tập trung vào hai nhóm doanh nghiệp: doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trên 50% vốn điều lệ).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước gồm Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng các tập đoàn, tổng công ty và DNCVNN thuộc diện quản lý.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước từ năm 1995 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022); chuỗi số liệu tài chính, hoạt động của DNCVNN tập trung phân tích sâu trong giai đoạn 2012–2020 (kết hợp số liệu so sánh trước 2012 và sau 2020); đề xuất giải pháp có tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Các công trình trong nước được luận án tổng thuật theo 3 nhóm nội dung chính:
- Vị trí, vai trò và bản chất của DNCVNN: Tác giả Nguyễn Mạnh Quân (trong bài viết về tái cấu trúc DNCVNN) phân tích hai luồng quan điểm: một bên cho rằng DNCVNN hoạt động kém hiệu quả nên cần loại bỏ, bên còn lại khẳng định vai trò không thể phủ nhận của DNCVNN trong ổn định kinh tế. Phạm Việt Dũng khẳng định DNCVNN giữ vị trí nòng cốt trong kinh tế nhà nước. Ngô Quang Minh chỉ ra sự không rõ ràng trong quan hệ sở hữu giữa toàn dân và Nhà nước dẫn đến tình trạng tài sản công trở thành "vô chủ". Trần Thị Minh Châu nhấn mạnh DNCVNN phải đủ mạnh để bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, trong khi Trần Đình Thiên cho rằng cần coi DNCVNN như các doanh nghiệp bình thường, hoạt động không hiệu quả thì phải thoái vốn thay vì gán ghép chức năng điều tiết vĩ mô. Tác giả Nguyễn Kế Tuấn chỉ ra việc các tập đoàn kinh tế nhà nước chưa đạt kỳ vọng và tạo gánh nặng cho xã hội. Cuốn sách do Lê Quốc Lý chủ biên tổng kết những bất cập về thể chế và sự lúng túng trong lựa chọn mô hình chủ sở hữu.
- Mô hình lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế: Đề tài KX04.09/06-10 do Nguyễn Kế Tuấn chủ nhiệm làm rõ bản chất sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trần Tiến Cường nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước tại Trung Quốc, Singapore và các nước Châu Âu (Thụy Điển, Phần Lan), Đông Âu (Hungary), Hàn Quốc, New Zealand; khẳng định yêu cầu tất yếu phải tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu. Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên phân tích cơ sở pháp lý và tổ chức của Ủy ban SASAC tại Trung Quốc. Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng (2013) làm rõ cơ sở khoa học của việc chuyển đổi mô hình đại diện chủ sở hữu theo hướng chuyên trách tập trung. Báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổng kết kinh nghiệm giám sát vốn tại New Zealand, Hàn Quốc, Phần Lan, Hungary, Maroc.
- Thực trạng và yêu cầu phân tách chức năng tại Việt Nam: Phan Thị Hồng Nhung và Trần Tiến Cường đề xuất công cụ luật pháp nhằm chấm dứt tình trạng các cơ quan nhà nước vừa quản lý hành chính vừa thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu. Trần Văn Tá chỉ rõ những bất cập về khung pháp lý sau giai đoạn thí điểm 12 tập đoàn kinh tế nhà nước từ năm 2005. Lê Xuân Bá và nhóm tác giả Trần Đình Thiên phân tích các điểm nghẽn tái cơ cấu và hiệu quả kinh tế mờ nhạt của các mô hình quản trị cũ. Nguyễn Thị Minh Phương phân tích cơ chế người đại diện vốn và hiện tượng thông tin bất đối xứng. Kỷ yếu hội thảo năm 2017 với các đóng góp của Nguyễn Viết Lợi, Nguyễn Đình Cung thảo luận về phương án thành lập cơ quan chuyên trách dưới dạng cơ quan quản lý nhà nước hay doanh nghiệp đầu tư vốn (như SCIC).
Các hướng nghiên cứu ngoài nước
- Kinh nghiệm cải cách thể chế: Trâu Đông Đào phân tích 30 năm cải cách mở cửa tại Trung Quốc với trọng tâm thành lập Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản nhà nước (SASAC) như một cơ quan đặc thù quản lý vốn công. Laksamana Sukardi (nguyên Bộ trưởng Bộ Doanh nghiệp nhà nước Indonesia) nêu rõ mối liên hệ giữa quản trị yếu kém và tính dễ tổn thương của DNNN, đồng thời chia sẻ việc ban hành Luật DNNN và thành lập Bộ Doanh nghiệp nhà nước chuyên trách. Zhang Jun (Đại học Fudan) đúc kết hai nguyên tắc cải cách doanh nghiệp của Trung Quốc là "thực dụng" và "thực nghiệm". Gary H. tổng kết bài học cải cách DNNN từ Trung Quốc, Brazil, Singapore và Hàn Quốc.
- Khung quản trị chuẩn mực: Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị các quốc gia tập trung chức năng đại diện sở hữu vào một cơ quan điều phối chuyên nghiệp, tách biệt quyền quản lý hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng giữa các cổ đông và trao quyền tự chủ thực chất cho Hội đồng quản trị.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các công trình trước đã đề cập đến từng khía cạnh lý luận hoặc kinh nghiệm quốc tế, song chưa có công trình nào đánh giá toàn diện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam sau khi Ủy ban Quản lý vốn nhà nước đi vào vận hành. Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua việc: (1) Xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về mô hình chủ sở hữu nhà nước (gồm 3 yếu tố cấu thành: cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, nguồn lực); (2) Đánh giá đồng bộ thực trạng quản lý vốn nhà nước tại cả Ủy ban Quản lý vốn nhà nước lẫn các bộ, ngành, địa phương còn nắm giữ doanh nghiệp; (3) Đề xuất mô hình chủ sở hữu giai đoạn đến năm 2030 gắn với lộ trình chuyển đổi và điều kiện thể chế đặc thù tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quản lý kinh tế.
Các lý thuyết và khái niệm cốt lõi được sử dụng gồm:
- Khái niệm Doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN): Theo quan điểm của tác giả, DNCVNN là doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước tham gia. Nhà nước đóng vai trò là cổ đông, thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu tương ứng với tỷ lệ vốn nắm giữ. DNCVNN bao gồm DNNN (doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo Luật Doanh nghiệp 2020, hoặc 100% vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014) và các doanh nghiệp có vốn nhà nước không chi phối (dưới 50% vốn).
- Khái niệm Mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN: Tác giả định nghĩa đây là kiểu thiết kế, xác lập cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành và nguồn lực (nhân lực và vật chất) của đơn vị thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN.
- Lý thuyết người đại diện (Principal-Agent Theory): Ra đời từ đầu những năm 1970, lý thuyết chỉ ra mối quan hệ ủy quyền giữa chủ sở hữu nguồn lực (Nhà nước) và người được giao quyền quản trị (cán bộ đại diện vốn, người quản lý doanh nghiệp). Khi xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng và thiếu cơ chế kiểm soát, người đại diện có xu hướng trục lợi cá nhân, dẫn đến nguy cơ lãng phí, thất thoát vốn nhà nước.
- Lý thuyết tổ chức bộ máy: Vận dụng quan điểm của Bartol và Martin (1994), Mintzberg (2009), Greenberg (2011) về cấu trúc tổ chức, sự phân công trách nhiệm, thẩm quyền và tương tác báo cáo nhằm bảo đảm hiệu lực quản trị.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính và phân tích thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu thực tế:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Khai thác từ các văn kiện của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Tài chính về tình hình tài chính DNCVNN, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số liệu của Tổng cục Thống kê, kỷ yếu hội thảo khoa học, các dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, cùng dữ liệu quốc tế từ OECD, Forbes Global 2000, Fortune Global 500.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (được thiết kế tại Phụ lục 2 của luận án) và phỏng vấn chuyên sâu. Đối tượng khảo sát gồm hai nhóm: (1) Lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (2) Các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý chuyên sâu về DNCVNN tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành liên quan.
- Kỹ thuật phân tích, xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp theo chuyên đề, phương pháp so sánh lịch sử và phân tích logic nhằm làm rõ các mối liên hệ giữa thể chế quản lý và hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
| Quốc gia |
Số lượng DN |
Phân loại: 100% vốn |
Phân loại: >50% vốn |
Phân loại: <50% vốn |
Quy mô đầu tư (% GDP) |
| Pháp |
58 |
50 |
8 |
- |
- |
| Thụy Điển |
60 |
46 |
- |
- |
- |
| Trinidad & Tobago |
54 |
44 |
7 |
3 |
- |
| Indonesia |
146 |
14 |
115 |
17 |
40% |
| Ma-rốc |
725 |
42 |
- |
- |
- |
| Trung Quốc |
115* |
- |
- |
- |
30% |
| Ấn Độ |
- |
- |
- |
- |
25% |
| Thái Lan |
- |
- |
- |
- |
25% |
| Malaysia |
66 |
- |
23 |
43 |
15% |
| Singapore |
35+52 |
5 |
9 |
73 |
15% |
| Philippines |
158 |
123 |
18 |
17 |
- |
(Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ Bảng 2.1 của luận án dựa trên số liệu giai đoạn 2010–2011; dấu "-" biểu thị tài liệu gốc không cung cấp số liệu chi tiết; Trung Quốc chỉ tính các tập đoàn thuộc SASAC quản lý).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sở hữu nhà nước và quản lý DNCVNN. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã thống nhất ở nhiều quan điểm: cần tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu; DNCVNN cần thu hẹp phạm vi hoạt động, chỉ tập trung vào các lĩnh vực tư nhân không thể hoặc không muốn đầu tư; cần nâng cao năng lực quản trị công ty và tăng cường kiểm tra, giám sát.
Tuy nhiên, các công trình trước chưa thống nhất về mô hình tổ chức cơ quan đại diện chủ sở hữu: nên chọn mô hình tập trung, phân tán hay hỗn hợp; cơ quan này nên hoạt động dưới hình thức cơ quan hành chính nhà nước hay doanh nghiệp/định chế tài chính đặc biệt. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại Việt Nam trong bối cảnh thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước và yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế đến năm 2030.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN, bao gồm:
- Cấu trúc 3 thành tố: Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành và nguồn lực (con người và vật chất).
- Phân loại mô hình theo cơ chế và tổ chức: Theo cơ chế hoạt động, có 3 hình thức: cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, và tổ chức tài chính đặc biệt (hỗn hợp). Theo cơ cấu tổ chức, có mô hình tập trung (một đầu mối duy nhất), mô hình phân tán (nhiều bộ, ngành, địa phương cùng nắm quyền) và mô hình hỗn hợp (kết hợp cơ quan trung tâm và các bộ, địa phương).
- 8 yêu cầu xác lập mô hình: (1) Tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu; (2) Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ; (3) Bảo đảm tính chuyên môn hóa; (4) Phân công, phân cấp quản lý minh bạch; (5) Bảo đảm sự ổn định tương đối và linh hoạt; (6) Thống nhất trong chỉ huy và phối hợp đồng bộ; (7) Tinh gọn bộ máy, chi trả theo năng lực và hiệu quả; (8) Cơ chế vận hành ra quyết định kịp thời, minh bạch, bình đẳng.
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích mô hình SASAC của Trung Quốc (cơ quan chuyên trách thuộc Quốc vụ viện quản lý tài sản nhà nước), mô hình Bộ Doanh nghiệp nhà nước của Indonesia, mô hình cơ quan quản lý vốn nhà nước tại Pháp, mô hình giám sát tại Malaysia, Canada và các nước Bắc Âu. Qua đó, luận án rút ra bài học cho Việt Nam: tập trung đầu mối quản lý, phân định rõ quyền sở hữu với quản trị điều hành của doanh nghiệp, minh bạch thông tin và tuyển chọn nhân sự theo cơ chế thị trường.
Chương 3: Thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng DNCVNN và sự biến chuyển của mô hình chủ sở hữu giai đoạn 1995–2020:
- Đóng góp và hiệu quả của DNCVNN: Khu vực DNCVNN có sự gia tăng về quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, đóng góp đáng kể vào GDP và ngân sách nhà nước giai đoạn 2012–2019. Tuy nhiên, tỷ suất sinh lời trên vốn chưa tương xứng, nợ phải trả so với GDP vẫn ở mức cao và số lượng DNCVNN giảm dần qua các năm do tiến trình cổ phần hóa.
- Đánh giá các giai đoạn mô hình chủ sở hữu:
- Giai đoạn trước năm 2018: Áp dụng mô hình phân tán, các bộ chủ quản và UBND cấp tỉnh vừa ban hành chính sách ngành vừa thực hiện quyền chủ sở hữu, dẫn đến tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi", can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp nhưng lại đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra thua lỗ, thất thoát.
- Giai đoạn từ tháng 9/2018 đến nay: Thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu tại 19 tập đoàn, tổng công ty lớn. Hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tiếp tục được duy trì.
- Hạn chế và nguyên nhân: Mô hình hiện tại vẫn mang tính hỗn hợp, chưa thực sự tập trung hoàn toàn khi nhiều DNCVNN quan trọng vẫn trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các địa phương (Hà Nội, TP.HCM, các công ty xổ số). Ủy ban Quản lý vốn nhà nước hoạt động theo phương thức hành chính, thẩm quyền và quy trình xử lý công việc còn nhiều tầng nấc, làm chậm tiến độ phê duyệt dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh; đội ngũ nhân sự quản lý còn thiếu kiến thức chuyên sâu về quản trị kinh doanh và thị trường tài chính.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam
Chương 4 xác định bối cảnh trong nước, quốc tế và định hướng phát triển DNCVNN đến năm 2030, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp:
- Quan điểm định hướng: Hoàn thiện mô hình phải gắn liền với đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, kiên quyết tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu; chuyển từ phương thức can thiệp hành chính sang quản trị vốn đầu tư hiện đại; bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp theo cơ chế thị trường.
- Giải pháp tổ chức bộ máy và cơ chế theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (từ nay đến năm 2025): Tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu lực hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước; rà soát, chuyển giao tiếp các DNCVNN đủ điều kiện từ các bộ, ngành và địa phương về Ủy ban và SCIC; đổi mới quy trình ra quyết định, phân cấp mạnh mẽ hơn cho Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị doanh nghiệp.
- Giai đoạn 2 (đến năm 2030): Từng bước chuyển đổi mô hình cơ quan chủ sở hữu từ dạng cơ quan hành chính nhà nước sang mô hình tập đoàn đầu tư quốc gia hoặc định chế tài chính đặc biệt (quỹ đầu tư quốc gia), hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, tập trung vào mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn và đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn.
- Giải pháp về nhân lực và cơ chế giám sát: Đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người đại diện vốn theo hướng cạnh tranh, thuê giám đốc điều hành theo thông lệ quốc tế; thiết lập hệ thống giám sát tài chính điện tử, kiểm toán độc lập và công khai minh bạch thông tin DNCVNN.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm rõ khái niệm và đặc trưng DNCVNN: Phân định rõ phạm vi giữa Doanh nghiệp nhà nước (nắm giữ trên 50% vốn điều lệ) và Doanh nghiệp có vốn nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn nhà nước không chi phối dưới 50%), chỉ rõ địa vị pháp lý của Nhà nước với tư cách là cổ đông tổ chức tham gia bình đẳng trong doanh nghiệp.
- Xây dựng khung lý thuyết mô hình chủ sở hữu nhà nước: Xác định mô hình gồm 3 thành tố cốt lõi (cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, nguồn lực) và định hình 2 loại hình tổ chức chính (cơ quan quản lý nhà nước và mô hình doanh nghiệp/quỹ đầu tư), đồng thời xây dựng hệ thống 8 yêu cầu và các tiêu chí đánh giá định tính, định lượng.
- Tổng kết và nhận dạng mô hình quốc tế: Hệ thống hóa bài học từ các mô hình chủ sở hữu trên thế giới (SASAC Trung Quốc, Bộ DNNN Indonesia, Pháp, Singapore), cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng tiêu chí lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng chuyển đổi mô hình tại Việt Nam: Chỉ rõ những hạn chế mang tính hệ thống của mô hình phân tán cũ và những điểm nghẽn hành chính của mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước giai đoạn sau năm 2018.
- Đề xuất giải pháp và lộ trình cụ thể đến năm 2030: Đưa ra phương án hoàn thiện đồng thời hai khối: (1) Khối Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và SCIC; (2) Khối các bộ, ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) và địa phương (Hà Nội, TP.HCM, các công ty xổ số).
- Đề xuất mô hình mục tiêu dài hạn: Kiến nghị chuyển đổi từ cơ quan hành chính đại diện chủ sở hữu sang mô hình tổ chức tài chính/quỹ đầu tư quốc gia hoặc tập đoàn đầu tư quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả sinh lời của vốn nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi đối tượng, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và các doanh nghiệp có cổ phần chi phối (trên 50% vốn), chưa đi sâu phân tích chi tiết nhóm doanh nghiệp Nhà nước chỉ nắm giữ cổ phần thiểu số (dưới 50%).
- Về nguồn số liệu tài chính, phân tích định lượng tập trung vào chuỗi số liệu từ năm 2012 đến 2020; các giai đoạn sau 2020 chủ yếu mang tính chất kế thừa và đối chiếu do độ trễ trong công bố báo cáo tài chính của khu vực DNCVNN.
- Luận án tập trung vào thiết kế tổ chức và cơ chế quản lý vĩ mô của cơ quan đại diện chủ sở hữu, chưa giải quyết sâu các quy trình vận hành kỹ thuật nội bộ của từng tập đoàn, tổng công ty đặc thù.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu cơ chế đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 50% và các công ty liên kết trong bối cảnh thoái vốn sâu rộng.
- Nghiên cứu mô hình vận hành chi tiết của Quỹ đầu tư quốc gia khi Việt Nam chuyển đổi hoàn toàn mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước sang định chế tài chính doanh nghiệp sau năm 2030.
- Đánh giá tác động của việc số hóa và ứng dụng công nghệ trong công tác giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo thời gian thực.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Luận án cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn trực tiếp cho Ban Kinh tế Trung ương, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật, sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và định hướng cơ cấu lại DNCVNN đến năm 2030.
- Đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp: Cung cấp cơ sở tham khảo cho Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, SCIC, các bộ, ngành, địa phương và ban lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty trong việc kiện toàn bộ máy, phân định rõ thẩm quyền quản trị, nâng cao hiệu quả quản trị công ty và thúc đẩy tiến độ thoái vốn, cổ phần hóa.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế học, Tài chính công tại các học viện, trường đại học nghiên cứu về sở hữu nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và Doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN) như thế nào?
Theo luận án, DNCVNN là khái niệm rộng hơn, chỉ tất cả các doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước đầu tư, Nhà nước đóng vai trò là cổ đông trong doanh nghiệp. DNNN là một bộ phận của DNCVNN khi Nhà nước nắm giữ cổ phần/vốn góp chi phối (trên 50% theo Luật Doanh nghiệp 2020, hoặc 100% vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014) hoặc giữ quyền chỉ định đa số thành viên quản trị. Những doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước và Nhà nước không nắm quyền chi phối thì chỉ là DNCVNN chứ không phải DNNN.
2. Mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN gồm những yếu tố cấu thành nào?
Luận án xác định mô hình chủ sở hữu nhà nước gồm 3 yếu tố cấu thành chính: (1) Cơ cấu tổ chức bộ máy (được thiết lập dưới dạng cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp hay định chế tài chính đặc biệt); (2) Cơ chế vận hành (quy trình ra quyết định, phân cấp thẩm quyền, cơ chế báo cáo, phối hợp); (3) Nguồn lực (nhân lực quản trị và nguồn tài chính, cơ sở vật chất vận hành bộ máy).
3. Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (thành lập năm 2018) gặp phải những hạn chế, bất cập gì?
Theo phân tích của luận án, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước còn bộc lộ các bất cập: vẫn vận hành theo phương thức hành chính nhà nước; quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư còn chậm trễ, lúng túng; thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp có năng lực quản trị kinh doanh theo cơ chế thị trường; tiến độ cổ phần hóa, tái cơ cấu và thoái vốn của 19 tập đoàn, tổng công ty trực thuộc còn chậm. Đồng thời, mô hình mới chỉ quản lý 19 đơn vị, chưa tập trung được toàn bộ DNCVNN từ các bộ, ngành và địa phương khác.
4. Luận án đề xuất những mô hình chủ sở hữu nào theo kinh nghiệm quốc tế?
Luận án phân tích 3 mô hình quốc tế chính: (1) Mô hình Ủy ban quản lý và giám sát tài sản nhà nước (SASAC của Trung Quốc) – cơ quan chuyên trách cấp Chính phủ; (2) Mô hình Bộ Doanh nghiệp nhà nước (Indonesia) – tập trung quản lý ngành dọc; (3) Mô hình doanh nghiệp/quỹ đầu tư vốn nhà nước (như Temasek của Singapore, SCIC của Việt Nam, hoặc các quỹ tại Pháp, Malaysia, Bắc Âu).
5. Lộ trình hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại Việt Nam được đề xuất ra sao?
Luận án đề xuất lộ trình gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ nay đến 2025) tập trung hoàn thiện mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, rà soát chuyển giao tiếp các DNCVNN từ bộ ngành, địa phương về Ủy ban và SCIC; Giai đoạn 2 (đến năm 2030) từng bước chuyển đổi cơ quan chủ sở hữu sang mô hình tập đoàn đầu tư quốc gia hoặc quỹ đầu tư quốc gia hoạt động theo cơ chế thị trường và Luật Doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án "Mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam" của tác giả Hoàng Trường Giang đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn về tổ chức đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Thông qua việc phân tích thực trạng giai đoạn 1995–2020 và đúc rút bài học quốc tế, công trình chỉ rõ những bất cập của mô hình quản lý hành chính hiện hành đối với DNCVNN. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp và lộ trình đến năm 2030 nhằm chuyển đổi phương thức quản lý sang mô hình đầu tư vốn chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.