phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 3 chương, 16 hình vẽ (trong đó có 9 bản đồ), 26 bảng và 3 phụ lục (trong đó có 11 bản đồ). Tổng quan, cơ sở lý luận nghiên cứu phân vùng chức năng phục vụ tổ chức không gian quản lý tài nguyên và môi trường lãnh thổ cấp tỉnh. Phân tích các điều kiện địa lý và phân vùng chức năng tỉnh Phú Thọ. Định hướng không gian quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường tại tỉnh Phú Thọ.
TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG PHỤC VỤ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LÃNH THỔ CẤP TỈNH 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu phân vùng chức năng Các công trình nghiên cứu PVCN sử dụng các tiếp cận và phương pháp khoa học khác nhau cho các vùng lãnh thổ. Có thể tổng hợp theo hai nhóm công trình: a) Các công trình nghiên cứu phân vùng lãnh thổ theo các chức năng tổng hợp nhằm mục tiêu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Các nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy phân vùng là một cách hiệu quả để quản lý TNMT theo không gian phục vụ PTBV [20-23].
Phân vùng nhằm mục tiêu thúc đẩy các nguồn lực KTXH nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, là cơ sở cho quá trình hoàn thành mục tiêu. Các nguyên nhân gây biến đổi không gian lãnh thổ cần được quan tâm trong công tác phân vùng, bao gồm: quy hoạch, phát triển, mở rộng đô thị, xói mòn đất và mất đất nông nghiệp [11]. Các kết quả phân vùng mà nội dung chủ đạo là việc hợp nhất lãnh thổ theo một hay một nhóm dấu hiệu tương đối đồng nhất được thừa nhận ở một mức độ nhất định [20]. Phân vùng lãnh thổ được xây dựng để giải quyết các mục tiêu thực tiễn: giải quyết vấn đề quy hoạch không gian phục vụ PTBV, đề xuất chính sách, giải pháp quy hoạch đặc thù đối với vùng nông thôn [21]; nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thúc đẩy phát triển KTXH dựa trên tích hợp các khung phân vùng cho quy hoạch nông nghiệp, phân vùng địa lý và phân vùng kinh tế sinh thái [25].
Phân vùng được sử dụng như một công cụ quản lý hành chính nhằm tối ưu hóa việc tổ chức sử dụng không gian lãnh thổ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, Wang và nnk. Tại một số quốc gia, PVCN được luật hóa trong các quy định pháp lý về TNMT để làm căn cứ triển khai trong thực tiễn. Tại Trung Quốc, phân vùng chức 7 năng được thực hiện theo 2 cấp: cấp quốc gia và cấp tỉnh. Bốn loại vùng được phân chia: vùng tối ưu phát triển; vùng ưu tiên phát triển; vùng hạn chế phát triển (vùng chức năng sinh thái và vùng sản xuất nông nghiệp); vùng cấm phát triển.
Tại Hoa Kỳ, lãnh thổ quốc gia này được phân chia theo 4 cấp, từ cấp tổng quát nhất (cấp I) với 10 vùng sinh thái, đến cấp chi tiết nhất (cấp IV) với 967 vùng sinh thái làm cơ sở quản lý TNMT. Tại Úc, tiếp cận PVCN hệ sinh thái được thực hiện tại khu vực vịnh Moreton. 19 bản đồ phân vùng các HST tương ứng với 19 chức năng được xây dựng dựa trên mô tả về các chức năng HST, đã cung cấp các giá trị, thông tin cho quy hoạch và quản lý các khu vực cung cấp chức năng HST, hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết định [26]. b) Các công trình nghiên cứu phân vùng chức năng lãnh thổ phục vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường PVCN được ứng dụng trong một lĩnh vực quản lý TNMT chuyên đề hoặc quản lý tổng hợp TNMT.
Hsiaofei và nnk. (2006) nghiên cứu PVCN phục vụ quản lý các HST rừng quy mô nhỏ tại Đài Loan, Trung Quốc. Phương pháp luận sinh thái cảnh quan được vận dụng để xây dựng quy trình PVCN. Các chức năng của HST rừng được xem xét trong PVCN, bao gồm chức năng sản xuất sinh học, dịch vụ môi trường và hỗ trợ văn hóa trong HST rừng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy PVCN cung cấp cơ sở khoa học phục vụ ra quyết định sản xuất lâm nghiệp, nghiên cứu, thử nghiệm, giải trí và bảo tồn cấu trúc, chức năng và giá trị của các hệ sinh thái rừng [0]. Wang và nnk. (2014) thực hiện nghiên cứu PVCN biển (MFZ) cho vùng Thanh Đảo, Trung Quốc. Phương pháp hệ thống động lực được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng của các khu chức năng biển.
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho thực hành chính sách phân vùng dựa trên HST quy mô lớn để quản lý phát triển và sử dụng môi trường biển [2]. Li và nnk. (2015) kết hợp mô hình quá trình phân tích thứ bậc (AHP) với GIS để thực hiện PVCN phục vụ quản lý tài nguyên nước ngầm tại tỉnh Thiên Tân, Trung Quốc. Các tiêu chí phân vùng bao gồm: phân bố, chủng loại, điều kiện địa chất thủy văn, tình trạng khai thác nước ngầm, khả năng cung cấp tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, sự ổn định môi trường địa chất.
Kết quả nghiên cứu cho thấy PVCN cung cấp cơ sở khoa học cho sự phát triển và sử dụng hợp lý, quản lý khoa học và bảo vệ hiệu quả nguồn nước ngầm [22]. Mamat và nnk. (2017) thực hiện PVCN phục vụ quản lý các di sản văn 8 hóa tại vùng Turpan, Trung Quốc. Phương pháp phân tích độ nhạy sinh thái được sử dụng để phân vùng di sản.
Các chỉ tiêu phục vụ phân vùng bao gồm: địa hình, môi trường sinh thái, hoạt động của con người và tài nguyên cảnh quan. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho PVCN các di sản văn hóa trong khu vực phục vụ công tác quản lý và bảo tồn; đồng thời có thể áp dụng cho các khu vực khác có điều kiện tương tự [23]. Quản lý các khu vực được bảo vệ, tiếp cận khu vực hóa được tiến hành dựa trên thông tin về cấu trúc và chức năng cảnh quan, nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề: (i) Mối quan hệ giữa cấu trúc cảnh quan với sự phân bố vật chất và chuyển hóa năng lượng, tạo nên sự phân hóa theo không gian các dịch vụ hệ sinh thái [25]; (ii) Xác định ranh giới cụ thể nhằm định hướng sử dụng cho từng vùng lãnh thổ dựa trên phân tích liên hợp các bản đồ thành phần; (iii) Lập quy hoạch môi trường cấp quốc gia và các cấp lãnh thổ nhỏ hơn làm cơ sở cho các bước dự đoán, đề xuất biện pháp ứng phó trong định hướng quy hoạch sử dụng đất bền vững [26]. Tại Trung Quốc, phân vùng theo định hướng chức năng chính (MFOZ) được phát triển nhằm tối ưu hóa không gian phát triển vùng.
Dựa trên căn cứ khoa học địa lý kinh tế, mô hình cân bằng không gian và bộ chỉ số tổng hợp được phát triển phục vụ công tác phân vùng. Việc thực hiện và điều phối MFOZ từ góc độ sắp xếp thể chế của quản trị không gian bao gồm luật pháp, quy hoạch và chính sách của chính phủ là cơ sở khoa học cho quá trình ra quyết định quản lý lãnh thổ [24]. Nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường Hướng nghiên cứu quản lý tổng hợp TNMT ra đời xuất phát từ thực tế nhiều biện pháp quản lý TNMT truyền thống thất bại trong giải quyết triệt để tác động của con người tới môi trường [9, 10, 11]. Quản lý tổng hợp TNMT được phát triển dựa trên tiếp cận mang tính toàn diện để giải quyết các vấn đề nổi cộm về TNMT ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
Tại Hoa Kỳ, các tổ chức nhà nước và cơ quan vùng thực hiện tiếp cận tổng hợp trong quản lý lưu vực, quản lý lâm nghiệp và quy hoạch phát triển vùng [13]. Năm 1965, lần đầu tiên Hoa Kỳ thông qua luật về quy hoạch tài nguyên nước, trong đó đề cập tới tiếp cận thống nhất và tổng hợp đối với phát triển, quy hoạch tài nguyên nước [14]. Các mô hình sinh thái được phát triển nhằm xem xét, phân loại tầm quan trọng của các lưu vực theo các tiêu chí sinh thái [15]. Các chính sách mới trong quản lý TNMT tại Hoa Kỳ được thông qua nhằm thúc 9 đẩy các phương pháp tiếp cận có sự tham gia và tương tác nhiều hơn [12].
Trong lĩnh vực quản lý hành chính và phân tích chính sách môi trường, các chính sách chất lượng môi trường được phát triển trên cơ sở tương tác qua lại và hướng tới giải quyết vấn đề [16]. Vai trò của liên kết sử dụng và quản lý TNMT được xem xét. Các tổ chức cấp bang và liên bang triển khai tiếp cận tổng hợp xây dựng các quyết định mang tính tương tác hơn [17]. Tại Canada, chính quyền địa phương thực thi chính sách quản lý tổng hợp lưu vực [18].
Tại Úc, chính quyền các bang New South Wales, Victoria, Queenland và Tây Úc đã có những chính sách và quy định về quản lý tổng hợp theo các lưu vực sông [19]. Từ thực tiễn nghiên cứu và triển khai đã chỉ ra rằng quản lý tổng hợp TNMT là tiếp cận khoa học phù hợp cho phép giải quyết hiệu quả vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý gây suy thoái môi trường và tác động tiêu cực đến nền kinh tế hiện nay. Quản lý tổng hợp TNMT hướng tới một quá trình xây dựng và triển khai các hành động có trách nhiệm về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và con người gắn liền với ranh giới của HST, đồng thời cân nhắc các yếu tố chính sách và phát triển để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, phương pháp luận PVCN chưa được đề cập một cách cụ thể.
Trong thực tiễn quản lý nhà nước, công tác PVCN đã được thể hiện trong các văn bản pháp quy và đã được tiến hành trong các nghiên cứu liên quan đến phân vùng môi trường, PVCN môi trường phục vụ lập quy hoạch môi trường hay quy hoạch bảo vệ môi trường. Hướng phân vùng lãnh thổ theo các chức năng tổng hợp nhằm mục tiêu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Theo hướng này, PVCN đã được đề cập hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp trong các văn bản pháp quy tại Việt Nam.