ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Theo liên đoàn đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation- IDF), năm 2021 ước tính khoảng 537 triệu người trưởng thành (20-79 tuổi) đang sống chung với bệnh đái tháo đường, dự kiến đến năm 2045, con số này sẽ tăng lên 783 triệu. Đái tháo đường mang lại hậu quả nghiêm trọng cho các quốc gia và vùng lãnh thổ, là nguyên nhân gây ra 6,7 triệu ca tử vong mỗi năm. Tại Việt Nam tính đến năm 2021 tỷ lệ đái tháo đường là khoảng 6,1 % [35].
Một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh đái tháo đường tiến triển nặng, gây nhiều biến chứng và tử vong là do người bệnh không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ điều trị kém. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị các bệnh mạn tính trung bình ở các nước phát triển chỉ đạt 50% và tỷ lệ này ở các nước đang phát triển còn thấp hơn [63]. Không tuân thủ điều trị làm gia tăng số ca tử vong, tăng tỷ lệ bệnh nhân phải nhập viện và chi phí điều trị. Theo định nghĩa của WHO, “Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường là sự kết hợp của 4 biện pháp: Chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ”[63] Trong đó tuân thủ dùng thuốc là yếu tố liên quan trực tiếp đến chỉ số HbA1c [34].
Trong các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường là 36 – 93% [23], [8], [11], [1]. Có nhiều yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc như yếu tố về kinh tế xã hội, yếu tố về hệ thống y tế, yếu tố liên quan đến bệnh tật và tình trạng bệnh, yếu tố liên quan đến liệu pháp điều trị và yếu tố liên quan đến bệnh nhân như tuổi, giới tính, niềm tin về thuốc, năng lực đọc hiểu và vận dụng thông tin về thuốc, tự tin dùng thuốc đúng theo hướng dẫn, năng lực sức khỏe, mức độ lo âu trầm cảm [45,46,47]. Tuy nhiên có những yếu tố là không thể thay đổi. Vì vậy để nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc cần quan tâm đến các yếu tố có thể thay đổi được thuộc về bệnh nhân.
Năng lực đọc hiểu và vận dụng thông tin về thuốc, tự tin dùng thuốc đúng theo chỉ dẫn là 2 yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc [32, 63]. Bệnh viện Y học cổ truyền – Bộ Công An là một bệnh viện ngành thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho cán bộ chiến sĩ và bảo hiểm y tế toàn dân. Hiện nay số lượng bệnh nhân đái tháo đường típ 2 quản lý tại bệnh viện khoảng 1. Với phương châm kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền truyền thống nên tùy vào tình trạng bệnh ngoài việc điều trị đái tháo đường theo phác đồ các bác sỹ tại bệnh viện còn kết hợp thêm các sản phẩm đông y để góp phần điều trị bệnh đái tháo đường.
1 Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc người bệnh có tin tưởng, sử dụng và hài lòng với các sản phẩm đông y đã được kê, việc kê thêm các sản phẩm này có ảnh hưởng gì đến tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân hay không. Năm 2018 đề tài của Đoàn Thúy Ngân đã bước đầu đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân thông qua bộ câu hỏi MMAS – 8 xác định một số thói quen dùng thuốc của bệnh nhân và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị [16]. Kết quả đề tài cho thấy sự liên quan giữa yếu tổ tuổi và số thuốc sử dụng đến mức độ tuân thủ của bệnh nhân tuy nhiên đây là các yếu tố không thay đổi được nên ít ý nghĩa về mặt lâm sàng. Vì vậy để đánh giá cụ thể hơn và tìm ra các yếu tố tâm lý – xã hội thay đổi được liên quan đến bệnh nhân, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền – Bộ Công an” với 2 mục tiêu sau : 1.
Mô tả đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm dùng thuốc, năng lực hiểu và vận dụng thông tin về thuốc, mức độ tự tin dùng đúng thuốc theo hướng dẫn và niềm tin về các sản phẩm đông y của các bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền – Bộ Công an. Phân tích thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng lên tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện. Kết quả của đề tài sẽ giúp đưa ra các biện pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả điều trị trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Y học cổ truyền – Bộ Công An. TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1.
Đại cương về bệnh Đái tháo đường 1. Định nghĩa Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [5]. Dịch tễ Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2021 thế giới có 537 triệu người trưởng thành đang sống chung với bệnh đái tháo đường.
Tổng số người mắc bệnh tiểu đường được dự đoán sẽ tăng lên 643 triệu (11,3%) vào năm 2030 và 783 triệu (12,2%) vào năm 2045. Hơn 4/5 (81%) người mắc bệnh tiểu đường ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Ước tính có khoảng 44,7% người trưởng thành (240 triệu người) sống chung với bệnh tiểu đường không được chẩn đoán và có khoảng 6,7 triệu người trưởng thành đã chết do bệnh tiểu đường hoặc các biến chứng của nó (Cứ 5 giây lại có 1 người tử vong). Số người mắc bệnh tiểu đường đang ngày một gia tăng tại các quốc gia và châu lục.
Tính đến năm 2021, Đông Nam Á có 90 triệu người trưởng thành mắc bệnh tiểu đường, Tây Thái Bình Dương có 206 triệu người, Nam và Trung Mỹ có 32 triệu người, Bắc Mỹ và Caribe có 51 triệu người, Châu Âu có 61 triệu người mắc, Châu Phi 24 triệu người, Trung Đông và Bắc Phi 73 triệu người. Con số này được dự đoán tăng lên vào năm 2045, Đông Nam Á 152 triệu người (tăng 68%), Tây Thái Bình Dương 260 (tăng 27%), Nam và Trung Mỹ 49 triệu người (tăng 50%), Bắc Mỹ và Caribe 63 triệu người (tăng 24%), Châu Âu 69 triệu người (tăng 13%.), Châu Phi tăng lên 55 triệu người (tăng 134%), Trung Đông và Bắc phi 136 triệu người.1: Phân bố Đái tháo đường trên thế giới Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1 % (Ở thành phố Hà Nội), 2,52% (Ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (Ở thành phố Huế), thì nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy: Tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5.42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003). Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi tử 18- 69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1 %, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán là 69,9%.
Trong số những người được chẩn đoán, tỷ lệ ĐTĐ được quản lý tại các cơ sở y tê là 28,9%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được quản lý là 71,1 % [5]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2021 Việt Nam có tỷ lệ 6,1 % người trưởng thành mắc ĐTĐ, ước tính tăng lên 7,1 % vào năm 2045. Mục tiêu điều trị, phương pháp điều trị 1. Mục tiêu điều trị Bảng 1.
Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành, không có thai [5] Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7,0%* Glucose huyết tương mao 80 – 130mg/dl (4,4 – 7,2 mmol/L)* mạch lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương <180mg/dl (10,0 mmol/L)* mao mạch sau ăn 1-2 giờ Tâm thu <140mmHg, tâm trương <90mmHg Huyết áp Nếu đã có biến chứng thận: Huyết áp <130/80 mmHg LDL cholesterol < 100mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch. LDL cholesterol < 70mg/dL (1,8 mmol/L), nếu đã có biến chứng tim mạch vữa xơ, hoặc có thể thấp Lipid máu hơn < 50mg/dL nếu có yếu tố nguy cơ xơ vữa cao. Triglycerid < 150mg/dL (1,7mmol/L). HDL cholesterol >40mg/dL (1mmol/L) và >50mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ.
* Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của bệnh nhân [5] - Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c <6,5% ở BN trẻ, mới chẩn đoán, không có các bệnh lý tim mạch, nguy cơ hạ glucose máu thấp. - Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể cao hơn (HbA1c từ 7,5 – 8%) ở những bệnh nhân lớn tuổi, mắc bệnh đái tháo đường đã lâu, có nhiều bệnh lý đi kèm, có tiền sử hạ glucose máu nặng trước đó. - Cần chú ý mục tiêu glucose huyết sau ăn (sau khi bắt đầu ăn 1-2 giờ) nếu đã đạt được mục tiêu glucose huyết lúc đói nhưng chưa đạt mục tiêu HbA1c. Mục tiêu điều trị đái tháo đường ở người già [5] Glucose Glucose huyết lúc Tình trạng sức Cơ sở để chọn HbA1c huyết lúc Huyết áp đói hoặc khỏe lựa (%) đi ngủ mmHg trước ăn (mg/dL) (mg/dL) < 7,5 Mạnh khỏe Còn sống lâu 90 - 130 90 – 150 < 140/90 % Nhiều bệnh, sức Kỳ vọng sống khỏe trung <8% 90 – 150 100 -180 < 140/90 trung bình bình Nhiều bệnh phức tạp hoặc Không còn < 8,5 bệnh nguy 100 - 180 100 - 200 < 150/90 sống lâu % kịch/sức khỏe kém * Đánh giá về kiểm soát đường huyết: - Thực hiện xét nghiệm HbA1c ít nhất 2 lần trong 1 năm ở những người bệnh đáp ứng mục tiêu điều trị (và những người có đường huyết được kiểm soát ổn định).
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c hàng quý ở những người bệnh được thay đổi liệu pháp điều trị hoặc những người không đáp ứng mục tiêu về glucose huyết.