phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chƣơng 2: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn. Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại 1. Quá trình đổi mới đất nước và đổi mới văn học Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Trong chiến tranh, đất nƣớc ta đã phải gồng mình chuẩn bị sức ngƣời, sức của cho tiền tuyến.
Hậu quả để lại thật nặng nề. Vì vậy, ta phải dồn sức để khôi phục lại cuộc sống sau chiến tranh. Sau năm 1986, đất nƣớc ta vẫn kiên trì con đƣờng tiến lên chủ nghĩa xã hội nhƣng đã bắt đầu gặp phải nhiều khó khăn và khiếm khuyết. Bởi trƣớc đó, ta đã phải trải qua một thời gian dài chiến tranh, lại gần mƣời năm bao cấp.
Điều đó đã khiến cho kinh tế không phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu. Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã thể hiện chủ trƣơng đổi mới: “Đối với đất nƣớc ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trƣớc hết là đổi mới tƣ duy, chúng ta mới có thể vƣợt qua khó khăn, thực hiện đƣợc những mục tiêu do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra”. Cùng với sự đổi mới của đất nƣớc, văn học cũng có bƣớc chuyển mình đáng kể. Bởi một trong những chức năng của văn học phản ánh hiện thực.
Nếu ngòi bút của nhà văn không bắt rễ từ hiện thực thì không thể có sức sống bền bỉ, lâu dài. Tuy nhiên, sự phản ánh hiện thực của văn học không phải là sự rập khuôn, máy móc. Đời sống vận động không ngừng, ngòi bút phản ánh của nhà văn theo đó cũng phải biến chuyển linh hoạt, đa dạng qua mỗi giai đoạn, thời kì 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau với những khuynh hƣớng sáng tác khác nhau. Quan niệm văn học phản ánh hiện thực cũng có những biến đổi nhiều chiều cho phù hợp với yêu cầu đổi mới luôn thƣờng trực trong sáng tác.
Có thể thấy công cuộc đổi mới của văn học đƣợc đặt ra nhƣ một nhu cầu bức thiết trƣớc những thay đổi của lịch sử xã hội. Đúng nhƣ GS. Phong Lê nói: “Văn chƣơng cần tự đổi mới, và đổi mới trở thành nhu cầu tự thân. Nó không hoàn toàn chỉ vì một đòi hỏi, một sức ép từ ngoài.
Hoặc nếu có sức ép thì cũng phải tìm thấy sự thống nhất hoặc thông qua đòi hỏi bên trong. Và nhƣ vậy, với công cuộc đổi mới đất nƣớc, văn học đang đứng trƣớc nhu cầu mạnh mẽ của sự biến đổi”. Những tín hiệu đổi mới trong văn học đƣợc bắt đầu từ những năm 80 và đổi mới mạnh mẽ từ Đại hội VI của Đảng và sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị. Vào cuối năm 1987, Tổng Bí thƣ Nguyễn Văn Linh đã có cuộc gặp gỡ với giới văn nghệ sĩ.
Cuộc gặp gỡ đã tác động mạnh mẽ tới tƣ tƣởng nghệ thuật của giới văn nghệ sĩ. Nếu nhƣ văn học trong giai đoạn trƣớc chủ yếu phục vụ cho mục tiêu chung của cách mạng thì giai đoạn này, văn học bám sát quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc nhƣng cần nhấn mạnh ở sự phản ánh hiện thực và vai trò dự cảm, dự báo. Trong thời bình, con ngƣời trở lại với cuộc sống thƣờng nhật với biết bao những vấn đề xã hội nhƣ: hôn nhân, gia đình, tôn giáo, sự thức tỉnh cá nhân, phụ nữ…. Và văn học phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề còn đang tồn đọng này trong xã hội.
Có thể khẳng định rằng, văn học đã bắt kịp quá trình đổi mới của đất nƣớc. Chính vì vậy, nó đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều sáng tạo về nghệ thuật…. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Thực tiễn văn học từ sau thời kỳ đổi mới cho thấy có hàng loạt cuốn tiểu thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của các tác giả hải ngoại.
Nhƣ vậy tiểu thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày càng nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng nhƣ “giá trị tiềm ẩn” của thể loại trong tƣơng lai. Trong thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật, Việt Nam cũng nhƣ ở nƣớc ngoài luôn song hành các tác phẩm viết theo thi pháp truyền thống và hiện đại. Mỗi xu hƣớng sáng tác đều có chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận của riêng mình cũng nhƣ đều có những thành công và hạn chế. Do vậy không vì cổ xuý cách tân mà khƣớc từ truyền thống và cũng không vì truyền thống mà dị ứng với cái mới.
Xét cho cùng, khi viết theo thi pháp truyền thống ngƣời viết cũng đã nỗ lực đổi mới về nội dung cũng nhƣ ở nghệ thuật trần thuật. Nhìn chung, những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải nghiệm của đời sống con ngƣời. Về mặt tự sự, nó hấp dẫn ngƣời đọc trƣớc hết bằng nội dung chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống của một nhân vật mang tính cách giống hay khác với họ. Tính thẩm mỹ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyện mạch lạc, lôi cuốn.
Về cấu trúc, tiểu thuyết truyền thống dựa trên một cốt truyện, thu hút sự chú ý của ngƣời đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc có hậu, trả độc giả về với “trật tự quen thuộc của đời sống”. Với những tiểu thuyết viết theo hƣớng hiện đại đã cho thấy hiện thực là phong phú, phức tạp và không thể hoặc khó có thể “kể lại” đƣợc. Ở đây, tiểu thuyết không làm sứ mệnh cung cấp một bức tranh hiện thực về xã hội mà phải “phát minh ra các hình thức”. Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và những gì ở ngoài văn học bị cắt đứt hoặc bị lui lại phía sau; và chỉ còn lại hai mối quan hệ chính: quan hệ giữa tác phẩm văn học với chính nó và quan hệ giữa tác phẩm 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn học này với những tác phẩm văn học khác.
Tiểu thuyết viết theo xu hƣớng này có thể còn xa lạ, đánh đố, thậm chí “gây hấn” với độc giả nhƣng nó đã mở ra một triển vọng mới cho tiểu thuyết và cho sự tiếp nhận mới của ngƣời đọc hiện đại. Sự mở rộng biên độ, đa dạng hóa trong cái nhìn thế giới và con ngƣời là một trong những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết từ sau 1986 đến nay. Thực tế cuộc sống ở một thời kỳ mới đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực. Một tƣ duy văn học mới đƣợc hình thành và nhu cầu về đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trở nên bức thiết.
Xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi đƣợc quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về với con ngƣời, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, bảo tồn giá trị của con ngƣời trƣớc sự lãng quên của xã hội. Con ngƣời cô đơn, con ngƣời thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tiểu thuyết gia đƣơng đại.
Có thể nói, tiểu thuyết là “công cụ hữu hiệu” của văn học để tái hiện lịch sử theo nhãn quan ngƣời viết và tiểu thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả số phận con ngƣời. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà tiểu thuyết đã khắc hoạ khá đầy đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời ngƣời gắn với những biến động của lịch sử, với những thăng trầm của đời sống xã hội: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dƣơng Hƣớng), Dòng sông mía (Đào Thắng), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Cõi mê (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Ba người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng)… Các nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời ngƣời, một thân phận trong hành trình của thế kỷ XX gắn với chiều dài lịch sử qua bao cuộc “bể dâu”. Mỗi tiểu 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuyết là một cách khai thác sâu hơn về cõi ngƣời, cõi đời để đạt đƣợc một tầm sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh. Các tiểu thuyết nói trên đều hƣớng tới hệ quy chiếu, đó là thế giới riêng của những con ngƣời chịu nhiều nếm trải cay đắng, thấm đẫm sắc thái bi hài của số phận.
Hơn nữa, tiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con ngƣời Việt Nam ở hải ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T. Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thể loại, làm cho diện mạo tiểu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộc đời và con ngƣời trong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn. Hiện thực đời sống con ngƣời với những tâm tƣ, khát vọng, những bi kịch riêng tƣ chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài đƣợc các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều sâu mới. Trong những năm gần đây nhiều tiểu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc giả: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng).
Tìm đến chất liệu cái tôi, các nhà văn nhƣ trở về với chính mình. Với tiểu thuyết tự truyện, cốt truyện đƣợc xây dựng trên cơ sở của sự kiện chính về cuộc đời, về con ngƣời tác giả. Điều đáng nói ở đây là trí nhớ, sự hồi tƣởng, ký ức không lấn át yếu tố hƣ cấu.