Chương 1: Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa trong dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử đương đại - Chương 2: Các phương thức xây dựng nhân vật từ góc nhìn loại hình - Chương 3: Thi pháp kết cấu và tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa trong dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử đƣơng đại Như trên đã đề cập, Nguyễn Xuân Khánh không phải là cây bút mới. Hành trình viết văn thầm lặng của ông trải dài hơn nửa thế kỷ với nhiều thăng trầm, và để đến hôm nay, khi tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh “đóng đinh” trong tâm trí bạn đọc với tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, đó là cuộc bứt phá ngoạn mục, khẳng định tài năng nghệ thuật và tâm huyết của nhà văn lão thành. Cũng phải nói thêm rằng, sự trở lại của một số tác giả với tiểu thuyết đồ sộ khi mà tuổi đời đã bước vào độ “xưa nay hiếm” như: Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, Tô Hoài (Ba người khác), Bùi Ngọc Tấn (Biển và chim bói cá), Châu Diên (Người sông Mê)… là một hiện tượng văn học của những năm đầu thế kỷ XXI. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của đông đảo cây bút trẻ, chuyên và không chuyên, trình làng những lối viết mới, cách tân trong bút pháp, khuynh hướng, đề tài và thi pháp thể loại nói chung như: Nguyễn Quỳnh Trang, Di Li, Phan Việt, Thuận, Phong Điệp… đã đem tới bầu không khí thực sự sôi động của tiểu thuyết thập niên đầu thế kỷ XXI.
Nhận diện tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại là một việc làm cần thiết, không chỉ giúp người viết có những đánh giá khách quan về giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm mà còn có thêm những kiến giải và cơ sở để nhận định rõ nét hơn về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh trong bức tranh tiểu thuyết muôn màu.1 Một số khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI. 8 “Thể loại sống bằng hiện tại, nhưng luôn nhớ quá khứ của mình, khởi thuỷ của mình” (M. Giai đoạn văn học từ năm 1986 đến nay đã xác lập một lộ trình mới trong nền văn xuôi đương đại. Vấn đề đổi mới văn học, trước hết và trên hết được nhìn nhận ở sự thay đổi trong tư duy, quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
Là loại hình tự sự có nhiều ưu thế, đáp ứng nhanh nhạy và đa dạng yêu cầu đổi mới, tiểu thuyết nhanh chóng chiếm giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn xuôi. Những cây bút trẻ có mảnh đất tự do sáng tác đã đem lại văn đàn một bầu không khí tươi mới chưa từng thấy, đa phong cách, đa giọng điệu, có sự hoà trộn của nhiều bút pháp. Đúng như cách nói của nhà văn đầu thế kỷ XXI, người đọc dễ dàng quan sát và khắc nhớ hàng loạt cái tên, những người viết tiểu thuyết đã từng quen và nhiều cây bút trẻ, chuyên và không chuyên: Đó là Võ Thị Hảo với Giàn thiêu; Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế, Đức Phật, Nàng Sivitri và tôi, Mười lẻ một đêm, SBC là Săn bắt chuột; Dấu về gió xoá; đó là Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà; Thoại kỳ thuỷ, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Chuyện của thiên tài với Nguyễn Thế Hoàng Linh; Chi na Town, Paris 11 tháng 8 của Thuận, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh Phượng, Quyên của Nguyễn Văn Thọ, Nháp, Phiên bản, Kín của Nguyễn Đình Tú, 1981, Nhiều cách sống, Mất ký ức của Nguyễn Quỳnh Trang, Sông - Tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư vv…vv. Nhận diện tiểu thuyết Việt Nam đương đại mười năm đầu thế kỷ XXI, công bằng mà nói, vẫn còn đó bức tranh bộn bề, ngổn ngang và chưa thực sự định danh chính xác cho tên gọi của trào lưu hay khuynh hướng nào.
Tuy nhiên, với chức năng phát hiện, thẩm định và tôn vinh giá trị văn chương, người nghiên cứu vẫn phải góp tiếng nói vào việc khẳng định những xu thế phát triển của thể loại này. Vì góc độ tiếp cận nào cũng có căn cứ, tiêu chí 9 hợp lý nên ở đây, trên cơ sở quan sát thực tế và tiếp thu ý kiến đánh giá của một số công trình khoa học đã công bố, người viết Luận văn tạm chia tiểu thuyết theo một số khuynh hướng sáng tác chính như sau: 1.1 Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử theo phong cách hiện đại Khoảng mười năm trở lại đây, công chúng yêu văn học chứng kiến sự nở rộ các tác phẩm tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử, tạo nên một làn sóng dư luận mới với nhiều tranh luận và phản biện đích đáng. Xu hướng cách tân hay truyền thống trong nghệ thuật đương đại đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong sáng tác viết về đề tài lịch sử và nhà tiểu thuyết có nghề luôn biết cách “làm mới” những vấn đề quá khứ, những hiện thực đã sẵn câu trả lời. Cũng phải khẳng định rằng, với hầu hết sáng tác văn chương, lịch sử và viết về lịch sử, hơn cả sự ám ảnh, đó còn là món nợ đeo đẳng suốt đời, buộc họ phải trả lời bằng tác phẩm văn học.
Tiểu thuyết lịch sử nói riêng hay các tác phẩm viết về đề tài lịch sử nói chung đã trải qua nhiều bước thăng trầm, có những khoảng rơi vào “im lặng” nhưng rồi trở lại đầy ấn tượng trong khoảng sáu, bảy năm đầu thế kỷ XXI. Văn đàn Việt Nam “được mùa” những tác phẩm thuộc khuynh hướng sáng tác này, đem tới một bầu không khí mới cho bức tranh tiểu thuyết dường như có phần chững lại khoảng cuối thập niên 90. Phần lớn các sáng tác đề tài lịch sử nhận được nhiều lời khen tặng của học giả, các nhà phê bình, giới truyền thông và công chúng nói chung. Trước năm 1986, đa số các nhà văn khai thác đề tài lịch sử đều theo một lối mòn truyền thống, chủ trương minh hoạ chính sử, nhìn lịch sử là sự tiếp nối các triều đại với cảm hứng ngợi ca, ngưỡng vọng những nhân vật kiệt xuất anh hùng.
Đó là bộ ba tác phẩm lịch sử của Hà Ân: Trên sóng truyền hịch, Bên bờ Thiên Mạc, Trăng nước Chương Dương dựng lại cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân Nguyên Mông của nhà Trần. Mỗi tác phẩm đều đi sâu khắc hoạ hình ảnh nhân vật trung tâm như Trần Quốc Tuấn, Trần Bình 10 Trọng… với chiến công hiển hách đi vào lịch sử. Sao khuê lấp lánh của nhà văn Nguyễn Đức Hiền là tiểu thuyết lịch sử viết về Nguyễn Trãi, một danh nhân văn hoá dân tộc, một số phận bi thảm đẫm lệ và oan trái trong lịch sử nước ta. Nguyễn Đức Hiền đã xây dựng thành công chân dung nhà tư tưởng Nguyễn Trãi trong các mối quan hệ cha con, thầy trò, vua tôi, vợ chồng… giữa một bối cảnh vô cùng phức tạp để thể hiện rõ quan điểm nhân nghĩa, yêu nước, thương dân nâng lên thành lẽ sống ở Ức Trai.
Chân dung của Lý Thường Kiệt qua ngòi bút Nghiêm Đa Văn trong cuốn Sừng Rượu thề cũng được khắc hoạ rõ nét một giai đoạn hào hùng của lịch sử dựng nước và giữ nước vv…vv. Nói chung, khuynh hướng tái hiện lịch sử như là sự kiện chính xác trong một số tiểu thuyết giai đoạn trước thời kỳ đổi mới khá rõ nét, ở đó các nhà văn coi lịch sử là cứu cánh cho tác phẩm, chưa làm bật lên chất “tiểu thuyết” như một sáng tạo, hư cấu nghệ thuật. Cùng với sự chuyển động của đời sống văn học nói chung và sự thay đổi tư duy phản ánh nghệ thuật của nhà văn nói riêng, tiểu thuyết lịch sử đương đại đã tiếp cận với cảm quan mới, có những cách tân táo bạo trong lối kể chuyện, thủ pháp xây dựng hình tượng … Vượt qua rào cản của những đáp án sẵn có, người viết tiểu thuyết lịch sử đã mở rộng biên độ sáng tạo, kể chuyện lịch sử bằng một phong cách hiện đại. Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Hội thề, Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân, bộ tiểu thuyết bốn tập của Hoàng Quốc Hải; Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa và Vương triều sụp đổ, Khúc khải hoàn dang dở của Hà Ân, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác… là những tác phẩm nằm trong khuynh hướng này.
Trong tiểu thuyết Giàn thiêu, dựa vào Đại Việt Sử ký toàn thư và huyền tích dân gian, tác giả đã dựng lên một bức tranh hoành trang nhiều màu đối chọi mà vấn đề trung tâm là thân phận con người trong những giằng xé, mâu thuẫn giữa quyền lợi, danh vị và hạnh phúc. Các nhân vật như Nguyên phi Ỷ 11 Lan, nhà sư Từ Đạo Hạnh không hắt sáng từ cái nhìn lý tưởng “ngưỡng vọng” mà được soi chiếu từ cả hai phần Con và Người, với tất cả mưu toan, tham vọng trần tục nhất. Chàng trai trẻ Từ Lộ chất chứa oan khuất và khổ đau trải qua hai kiếp - một của Đạo Hạnh Đại Sư theo con đường tu luyện khổ ải, một của bậc đế vương Thần Tông ngập chìm trong hậu cung đầy cung phi mỹ nữ. Đan chéo vào hai kiếp của Đạo Hạnh - Thần Tông là cô cung nữ Ngạn La vừa hoang dại vừa quyến rũ, là sư bà Nhuệ Anh với cuộc đời trôi dạt… Hội thề của Nguyễn Quang Thân lại dụng công xây dựng hình tượng Nguyễn Trãi - Nhà tư tưởng chủ nghĩa “Yên dân” trong một diễn biến ngắn: bảy ngày trước trận đánh cuối cùng ở Đông Quan, sau đại thắng Xương Giang đánh tan quân Minh xâm lược.
Điều quan trọng là tác giả đã đặt nhân vật vào điểm nhìn bên trong để khám phá những tình cảm sâu kín, trăn trở, thậm chí đau đớn của Nguyễn Trãi. Đó là cảm giác cô đơn của bậc đại túc, đại trí khi Lê Lợi chỉ đối đãi với ông như “thượng khách”, vừa trọng dụng, vừa kiêng dè. Đó là nỗi xót xa khi đứng giữa lòng quân thần, tướng lĩnh Lam Sơn mà vẫn chịu nhiều lời lẽ xúc xiểm, xu nịnh. Đó là nỗi đau đớn khi ông và người vợ Nguyễn Thị Lộ bị rêu rao bằng những lời xuyên tạc của kẻ ghen tức… Bằng thủ pháp xây dựng nhân vật theo lối hiện đại, không nặng về tiểu sử đời tư (như cách kể chuyện truyền thống), bi kịch lịch sử trong cuộc đời Nguyễn Trãi đã được nhà văn “làm sáng” trong một thời đoạn ngắn ngủi, nhưng giúp người đọc hôm nay đồng cảm hơn rất nhiều với nỗi đau mà ông trải qua.