chương I cũng trình bày một chính QLSD đât tại một số quốc gia trên thế giới và một số đô thị trong nước đã thực hiện công tác nay hiệu quả 21 CHƯƠNG II: THUC TRANG QUAN LY SỬ DUNG DAT TREN DIA BAN HUYEN QUY CHAU 2.1 Khái quát về Huyện Quy Châu — Nghệ An 2.1 Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên a. Vi trí địa lý “Huyện Quy Châu là một huyện miền núi cao nam ở phía Tây Bắc tinh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160 km về phía Tây Bắc Nghệ An theo quốc lộ 48, có toa độ địa lý từ 19006' đến 19047' vĩ độ Bắc, 104054' đến 105017" kinh độ Đông. Có ranh giới chung: - Phía Tây và Tay Bắc giáp huyện Qué Phong - Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Quy Hợp và Con Cuông - Phía Tây Nam giáp huyện Tương Dương - Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa Quy Châu có mạng lưới giao thông đa dạng cả đường bộ và đường thủy, là một trong những ưu thé dé phat triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện. Tuyến quốc lộ 48 chạy qua với chiều dai 39 km đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu giữa các xã trong huyện và với các huyện bạn.
nên rất thuận lợi trong việc giao lưu đi lại giữa các xã trong huyện dọc theo tuyến quốc lộ và các huyện bạn. Ngoài ra trên các tuyến sông, đặc biệt là sông Hiếu chạy qua địa bàn huyện thuận tiện cho việc vận chuyền hàng hóa, 26, tre, nứa. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp nên việc giao lưu giữa các xã trong huyện còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế khai thác tiềm năng đất đai cũng như các tài nguyên khác của huyện. Đặc điểm địa hình “Quy Châu là huyện có địa hình rất hiểm trở, nhiều núi bao bọc tạo nên những thung lũng nhỏ và hẹp.
Dia hình được phân ra thành các dạng như sau: - Dang địa hình thung lũng tương đối bằng phẳng phân bố rải rác ở các bãi bồi dọc theo các con sông và một số khe suối (Châu Bính, Châu Tiến, Châu Bình) diện tích ít chỉ chiếm 1% diện tích tự nhiên của huyện. 22 - Dạng địa hình đồi: Diện tích chiếm khoảng 25% diện tích tự nhiên toàn huyện. Phân bố dọc theo tuyến quốc lộ 48. Phần lớn nằm ở dạng lượn sóng có độ cao 70m — 200m - Dạng địa hình vùng núi: Diện tích chiếm khoảng 74% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó khoảng 57% là núi thấp từ 200 m - 1000 m, còn lại là núi cao trên 1000 m.
Dựa vào đặc điểm địa hình, Quỳ Châu được chia làm 4 vùng sinh thái: - Vùng trên bao gồm các xã: Châu Bính, Châu Tiến, Châu Thuận, Châu Thắng. - Vùng giữa bao gồm các xã: Châu Hạnh và Thị tran Tân Lạc - Vùng dưới bao gồm các xã: Châu Nga, Châu Hội, Châu Bình. - Vùng trong bao gồm các xã: Châu Phong, Diên Lãm, Châu Hoàn. Quỳ Châu có địa hình phức tạp với trên 74% diện tích có độ cao trên 200 m có nhiều đổi núi, mặt khác địa hình Quy Châu bị chia cắt nhiều do đó đây là một trong những nhân tố gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện.
Đặc điểm khí hậu. “Quy Châu chịu tác động của khí hau Bắc Trung Bộ của miền Tây Bắc Nghệ An, mang đặc điểm chung là nhiệt đới gió mùa, có mùa nắng nóng và mùa lạnh âm, chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam (gió Lào) khắc nghiệt. + Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. + Nhiệt độ trung bình năm biến đổi từ 23° đến 25°C.
Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7: Từ 39°C- 41°C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1: 89C. + Số giờ nắng bình quân khoảng 1. + Lượng mưa bình quân hàng năm 1. Tháng cao nhất là tháng 8, 9: tháng thấp nhất là tháng 1, 2.
+ Chế độ gió: Chịu ảnh hưởng một phần của gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 8 gây khô nóng ở một số vùng của huyện. + Độ am không khí bình quân 87%. Đặc điểm thủy văn 23 “Quy Châu có mạng lưới sông ngòi dày đặc với mật độ 5 - 7 km/km”. Các hệ thống sông suối lớn nhỏ đều có nguồn nước dồi dào, thé năng lớn cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân.
Huyện có hai nhánh sông chính là sông Hiếu và sông Hat. - Sông Hiếu: Bắt nguồn từ Qué Phong, là một nhánh của sông Cả, chạy xuyên suốt huyện theo hướng Tây Bắc đến Đông Nam qua các địa bàn sản xuất và dân cư của huyện. - Sông Hạt: Là một nhánh của sông Hiếu bắt nguồn từ dãy núi cao Thường Xuân (Thanh Hóa) đồ vào sông Hiếu tại Châu Tiến. Sông Hạt có tam quan trọng lớn là nguồn cung cấp nước tưới cho vùng lúa trọng điểm của huyện ở các xã: Châu Tiến, Châu Thắng, Châu Bính.
Ngoài ra, Quỳ Châu còn có hàng chục sông suối nhỏ khác trong mạng lưới của sông Hiếu phân bố ở hau hết các xã trong huyện.2 Đặc điểm dân cư a. Dân số: “Toàn huyện có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 11 xã va 1 thị tran, đều thuộc các xã vùng cao. Theo số liệu thống kê năm 2015, dân số của huyện có 53.179 người, trong đó dân tộc Thái chiếm tới 80% dân số toàn huyện. Mật độ dân số là 50,3 người/km), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân là 1,57%/nam, ít có biến động về dân số cơ học.
Các dân tộc ở Quỳ Châu phân bố không đều, chủ yếu tập trung doc theo quéc lộ 48 va doc theo sông Hiéu va song Hat. Lao động — việc làm và thu nhập “Trong những năm qua bằng nhiều hình thức, huyện Quy Châu đã thực hiện chương trình Quốc gia giải quyết việc làm và lông ghép các chương trình dự án, đã có những biện pháp tích cực dé giải quyết việc làm cho người lao động như ho trợ, dau tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiễn việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo ”. [3] Dân cư trong độ tuôi lao động của huyện là 30.680 người, chiếm 57,7% dân số toàn huyện, trong đó lao động trong lãnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 89%, hàng năm còn được bồ sung thêm khoảng 800 - 1. Số lao động 24 trong lãnh vực xây dựng công nghiệp chiếm 4,4%; số lao động trong lãnh vực thương mại dịch vụ chiếm 6,6%.
Cơ cấu dân số trẻ, lao động déi dào, song trình độ nghề nghiệp thấp do tỷ lệ lao động trong lãnh vực nông-lâm-ngư nghiệp chiếm tỷ lệ cao. Điều này gây cho huyện nhiều van dé nan giải trong việc thực hiện các chính sách giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Trong những năm gần đây từ 2011-2015, đã có nhiều thay đổi tích cực làm tăng thu nhập bình quân/đầu người (giá trị sản xuất hiện hành bình quân đầu người đạt 52,56 triệu đồng/người trong năm 2015). Bằng nhiều nguồn vốn: 120, 134, 135 cho các hộ nghèo và người lao động, xây dựng 29 dự án với tổng vốn đầu tư 1.659 triệu đồng dé phát triển sản xuất, tạo việc làm cho 425 lao động, giúp nhân dân từng bước xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên hàng năm huyện vẫn còn có nhiều hộ bị đói giáp hạt.3 Điều kiện về Kinh té-Xa hội a.
Tăng trưởng và thay đôi các bộ phân cau thành kinh tế Nền kinh tế của huyện tăng trưởng tương đối nhanh, trên một số lĩnh vực đã có bước đột phá. Tổng giá trị sản xuất năm 2016 đạt 230,370 tỷ đồng, đến năm 2018 tăng lên 259,400 tỷ đồng, năm 2021 đạt 364,3 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng (GDP) của huyện năm 2021 đạt 20,5% Bảng 2. I Cơ cấu kinh tế của huyện Quỳ Châu năm 2021 Ngành Cơ cau (%) Nông - Lâm — Ngư 38,2 Công nghiệp - Xây dựng cơ bản 23,8 Dịch vụ 38,0 (Nguồn: Phòng Thong kê huyện Quy Châu) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng phát triển của huyện, giảm ty trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.
Sự thay đổi các bộ phân cau thành kinh tế giữa các ngành trong huyện diễn ra còn rất chậm chap và chưa rõ nét, chủ yếu là chuyền đồi cơ cấu cây trồng và vật nuôi bên trong ngành nông nghiệp, ngành nông - lâm nghiệp vẫn là ngành chủ đạo trong cơ cau nên kinh tế, ngành tiểu thủ công nghiệp cũng như ngành dịch vụ mặc dù đã có nhiêu bước tiên khả quan, nhưng mới chi ở bước khởi dau và van là ngành 25 thứ yếu. Đây là hạn chế lớn ảnh hưởng đến tốc độ thay đổi các bộ phân cau thành kinh tế giữa các ngành. Sự thay đổi các bộ phân cấu thành kinh tế nông nghiệp của tỉnh giữa vật nuôi với cây trồng và áp dụng công nghệ, kỹ thuật khoa học vào nông nghiệp bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội, từng bước phát trién nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thực trạng phát triển các nghành kinh tế e Ngành nông nghiệp Ngành SXNN của huyện giai đoạn 2016 - 2021 có sự phát triển 6n định, có bước chuyên mới và đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đóng góp phần lớn cho GDP của toàn huyện Quỳ Châu.
Theo kết quả thu thập từ phòng Thống kê huyện Quỳ Châu thì đối với ngành: - Trồng trọt: Tổng sản lượng lương thực tăng từ 23.256,7 tan năm 2021, bình quân mỗi năm tăng 1250 tan. Việc chuyền đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng tiễn bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất được chú trọng nên năng suất lúa tăng dần qua các năm từ 42,0 tạ/ha năm 2016 lên 46,9 tạ/ha năm 2021. - Chăn nuôi: Trong những năm qua ngành chăn nuôi cũng có những bước chuyển biến đáng kể. Chăn nuôi ngày càng chú trọng hơn về chất lượng và số lượng.
Số hộ gia đình có quy mô chăn nuôi ngày càng tăng. Theo số liệu điều tra 31/12/2016 thì toàn huyện có 26.842 con lợn và 254.300 con gia cầm. - Thuỷ sản: Nhìn chung tông sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản tăng lên qua hang năm từ 357 tan năm 2016 lên 685 tan năm 2021. Trong đó sản lượng nuôi cá là chủ yếu trên 94% tổng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản.
Có được sự gia tăng như vậy là do việc chuyên diện tích trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và tận dụng mặt nước ven sông suôi đê làm ao thả cá, nuôi cá lông. - Lâm nghiệp: Huyện Quỳ Châu có điện tích đất lâm nghiệp khá lớn.