Tổng quan nghiên cứu

Đề kháng kháng sinh hiện là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất. Theo báo cáo của Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu, mỗi năm có khoảng 25.000 ca tử vong bắt nguồn từ vi khuẩn đa kháng thuốc, tạo nên gánh nặng kinh tế vượt mức 1,5 tỷ Euro. Năm 2017, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa các vi khuẩn Gram âm kháng carbapenem như Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii và họ Enterobacteriaceae vào danh sách cảnh báo ở mức ưu tiên cao nhất. Nhóm carbapenem, đặc biệt là imipenem và meropenem, giữ vai trò là kháng sinh dự trữ phổ rộng cuối cùng trong điều trị các ca nhiễm khuẩn nặng và nhiễm khuẩn bệnh viện. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng và kê đơn thiếu kiểm soát đang đẩy nhanh tốc độ đề kháng tại nhiều cơ sở y tế.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm bệnh nhân, phân tích thực trạng kê đơn, đánh giá tính phù hợp về chỉ định và liều lượng của kháng sinh carbapenem tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 6 tháng, từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2021. Với cỡ mẫu thu thập gồm 520 hồ sơ bệnh án nội trú, nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về việc sử dụng thuốc tại bệnh viện tuyến tỉnh hạng 1. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ triển khai chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả điều trị và bảo tồn nhóm kháng sinh dự trữ sống còn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các nguyên lý dược lực học và dược động học kinh điển cùng hệ thống quản trị kháng sinh hiện đại.

Kháng sinh carbapenem thuộc nhóm beta-lactam có tác dụng diệt khuẩn phụ thuộc thời gian. Hiệu quả kháng khuẩn tối ưu được xác định qua chỉ số phần trăm thời gian nồng độ thuốc tự do trong máu vượt quá nồng độ ức chế tối thiểu của vi khuẩn trong khoảng đưa liều. Mục tiêu điều trị đòi hỏi tỷ lệ này phải đạt trên 40% để diệt khuẩn hiệu quả và có thể lên tới 100% đối với các trường hợp nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn giảm nhạy cảm.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng khung Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế và khuyến cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới. Mô hình này tập trung vào các can thiệp trọng tâm như phê duyệt trước khi kê đơn, giám sát liều cá thể hóa dựa trên độ thanh thải creatinin theo công thức Cockcroft-Gault, và can thiệp xuống thang điều trị dựa trên bằng chứng vi sinh vật học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án điện tử của toàn bộ 520 bệnh nhân được chỉ định imipenem hoặc meropenem tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ trong khung thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 6/2021. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm thu thập toàn diện mọi ca bệnh đủ tiêu chuẩn, loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh chính xác mô hình thực hành lâm sàng thực tế.

Dữ liệu được trích xuất thông qua phiếu thu thập chuẩn hóa bao gồm các biến số: nhân khẩu học, chẩn đoán nhiễm khuẩn, chỉ số creatinin huyết thanh, kết quả nuôi cấy vi sinh, phác đồ liều, dung môi và thời gian truyền. Các dữ liệu định lượng có phân phối không chuẩn được phân tích dưới dạng trung vị và khoảng tứ phân vị 25% - 75%, trong khi các biến định tính được tính toán tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm phân tích dữ liệu chuyên dụng. Tiêu chuẩn đánh giá tính hợp lý của chỉ định và liều dùng được đối chiếu nghiêm ngặt theo Dược thư Quốc gia Việt Nam, tờ hướng dẫn sử dụng sản phẩm gốc đã được phê duyệt và các hướng dẫn điều trị quốc tế cập nhật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 520 bệnh án ghi nhận nhóm bệnh nhân sử dụng carbapenem chủ yếu là nam giới chiếm 69,4%, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm 58,7%, với cân nặng trung vị đạt 51 kg. Khoa Cấp cứu và Hồi sức tích cực là nơi sử dụng carbapenem nhiều nhất với 48,8%, tiếp theo là khối Nội với 36,3% và khối Ngoại với 14,4%. Thời gian nằm viện trung vị là 12 ngày và thời gian dùng carbapenem trung vị là 7 ngày. Hai bệnh lý nhiễm khuẩn phổ biến nhất được ghi nhận là viêm phổi nặng chiếm 53,8% và nhiễm khuẩn huyết hoặc sốc nhiễm khuẩn chiếm 13,6%.

Về mô hình sử dụng, meropenem chiếm ưu thế tuyệt đối với 85,6% (445 bệnh nhân), trong khi imipenem chiếm 14,4% (75 bệnh nhân). Đa số phác đồ điều trị được kê đơn ở dạng phối hợp với 70,0%, trong đó phối hợp cùng nhóm fluoroquinolon chiếm 31,7% và aminoglycosid chiếm 13,1%. Về đường dùng, 97,9% bệnh nhân được truyền tĩnh mạch với dung môi chính là natri clorid 0,9% (98,8%). Thời gian truyền ghi nhận 51,0% ca truyền từ 1 đến 3 giờ và 36,2% ca truyền kéo dài từ 3 đến 4 giờ.

Khía cạnh xét nghiệm cho thấy 96,0% bệnh nhân được xét nghiệm creatinin huyết thanh trước khi dùng thuốc, trong đó 75,4% được đánh giá ngay trước thời điểm chỉ định. Trong 490 người lớn đánh giá được chức năng thận, có 50,0% bệnh nhân cần hiệu chỉnh liều; tỷ lệ này ở nhóm dùng imipenem lên tới 86,0% và nhóm meropenem là 43,9%. Về vi sinh, tỷ lệ nuôi cấy trước khi dùng carbapenem chỉ đạt 40,6% (211 ca), với tỷ lệ dương tính là 46,4% (98 ca), trong đó Escherichia coli là tác nhân phân lập phổ biến nhất chiếm 28,6%.

Đáng chú ý, có tới 89,6% bệnh nhân được chỉ định carbapenem theo phác đồ kinh nghiệm (40,4% phác đồ ban đầu và 49,2% phác đồ thay thế), trong khi chỉ định theo đích vi sinh vật chỉ đạt 10,4%. Trong nhóm chỉ định ban đầu, tỷ lệ kê đơn không phù hợp với khuyến cáo chiếm 34,8%, điển hình là việc sử dụng carbapenem cho dự phòng phẫu thuật (5,2%) và đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (2,8%).

Thảo luận kết quả

Thực trạng sử dụng carbapenem tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy sự phụ thuộc rất lớn vào phác đồ kinh nghiệm với tỷ lệ 89,6%, cao hơn đáng kể so với mức khuyến cáo lý tưởng trong các mô hình quản lý kháng sinh chuẩn. Khi trình bày dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh giữa các khoa lâm sàng, sự chênh lệch rõ rệt thể hiện ở việc khoa Hồi sức tích cực có tỷ lệ chỉ định xét nghiệm vi sinh đạt 64,0%, trong khi khối Ngoại chỉ đạt 10,4%. Tỷ lệ nuôi cấy trước điều trị trên toàn viện ở mức 40,6% là nguyên nhân trực tiếp hạn chế cơ hội xuống thang kháng sinh, dẫn đến tỷ lệ điều trị trúng đích chỉ đạt 10,4%.

Việc ghi nhận 34,8% trường hợp chỉ định ban đầu chưa phù hợp, bao gồm cả mục đích dự phòng phẫu thuật sạch hoặc nhiễm khuẩn nhẹ, phản ánh tâm lý lo ngại thất bại điều trị của bác sĩ lâm sàng khi đối mặt với nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh khác, nơi tỷ lệ kê đơn carbapenem chưa tối ưu dao động từ 30% đến 45%.

Điểm sáng lâm sàng đáng ghi nhận là việc áp dụng phương pháp truyền kéo dài từ 3 đến 4 giờ chiếm 36,2% các ca bệnh, giúp tối ưu hóa chỉ số thời gian nồng độ thuốc duy trì trên ngưỡng ức chế vi khuẩn. Tuy nhiên, việc có tới 50,0% bệnh nhân suy giảm chức năng thận đòi hỏi khoa Dược cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong việc hiệu chỉnh liều cá thể hóa, giảm thiểu độc tính trên thận và thần kinh cho người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thu thập được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị kháng sinh:

  • Triển khai quy trình phê duyệt đơn thuốc carbapenem trước khi cấp phát: Hội đồng Thuốc và Điều trị cùng Ban Quản lý sử dụng kháng sinh cần áp dụng mẫu phiếu yêu cầu sử dụng kháng sinh dự trữ bắt buộc, có chữ ký hội chẩn giữa bác sĩ điều trị, bác sĩ hồi sức và dược sĩ lâm sàng. Mục tiêu là giảm tỷ lệ chỉ định kinh nghiệm ban đầu không phù hợp từ mức 34,8% xuống dưới 10% trong vòng 6 tháng.
  • Thiết lập hệ thống cảnh báo và hỗ trợ hiệu chỉnh liều theo chức năng thận: Phòng Công nghệ thông tin tích hợp công cụ tự động tính độ thanh thải creatinin theo công thức Cockcroft-Gault trên phần mềm bệnh án điện tử. Dược sĩ lâm sàng chủ động can thiệp hiệu chỉnh liều cho 100% bệnh nhân có suy giảm chức năng thận, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ dùng liều chuẩn xác lên trên 90% trong vòng 3 tháng.
  • Nâng cao năng lực và tần suất chỉ định xét nghiệm vi sinh: Các khoa lâm sàng, đặc biệt là khối Nội và khối Ngoại, phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định lấy mẫu bệnh phẩm nuôi cấy trước khi dùng liều kháng sinh đầu tiên. Bệnh viện đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ cấy vi sinh trước chỉ định carbapenem từ 40,6% lên tối thiểu 75% trong vòng 12 tháng.
  • Chuẩn hóa quy trình truyền tĩnh mạch kéo dài: Khoa Dược xây dựng hướng dẫn thực hành chuẩn về pha chế và truyền ngắt quãng kéo dài trong 3 giờ đối với meropenem và imipenem tại tất cả các khoa lâm sàng, hoàn thành tập huấn chuyên môn cho 100% điều dưỡng viên trong vòng 2 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Bác sĩ Hồi sức tích cực, Cấp cứu và Truyền nhiễm: Nắm bắt mô hình dịch tễ nhiễm khuẩn thực tế, tối ưu hóa lựa chọn phác đồ carbapenem ban đầu và thực hiện chuyển đổi, xuống thang kháng sinh kịp thời.
  • Dược sĩ lâm sàng và Thành viên Ban Quản lý sử dụng kháng sinh: Sử dụng dữ liệu nghiên cứu làm mô hình tham chiếu để xây dựng tiêu chí đánh giá sử dụng thuốc, thiết lập hướng dẫn hiệu chỉnh liều theo chức năng thận và triển khai kỹ thuật truyền kéo dài tối ưu.
  • Ban Giám đốc và Phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện: Có cơ sở dữ liệu xác thực để ban hành các quy định nội bộ, tối ưu hóa chi phí điều trị thuốc kháng sinh đắt tiền và nâng cao an toàn người bệnh.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu viên Dược học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu sử dụng thuốc, phân tích dữ liệu bệnh án điện tử và dịch tễ học đề kháng kháng sinh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao kháng sinh nhóm carbapenem lại được xếp vào danh mục kháng sinh dự trữ cần ưu tiên quản lý?
Carbapenem là nhóm kháng sinh có phổ tác dụng rộng nhất hiện nay, đóng vai trò là vũ khí điều trị cuối cùng đối với các vi khuẩn đa kháng sinh sinh enzym beta-lactamase phổ rộng. Nếu bị lạm dụng, nguy cơ vi khuẩn kháng toàn bộ carbapenem sẽ xuất hiện, khiến bệnh nhân đối mặt với tình trạng không còn thuốc điều trị hiệu quả.

Tỷ lệ chỉ định carbapenem theo kinh nghiệm trong nghiên cứu là bao nhiêu và mang ý nghĩa gì?
Nghiên cứu ghi nhận 89,6% bệnh nhân được chỉ định carbapenem theo phác đồ kinh nghiệm, trong đó 40,4% là ban đầu và 49,2% là phác đồ thay thế. Con số này phản ánh áp lực điều trị nhiễm khuẩn nặng trong khi tỷ lệ nuôi cấy vi sinh ban đầu còn thấp (40,6%), làm gia tăng nguy cơ chọn lọc chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Việc hiệu chỉnh liều carbapenem theo chức năng thận có tầm quan trọng như thế nào?
Carbapenem được đào thải chủ yếu qua thận dưới dạng còn hoạt tính (khoảng 70% đối với meropenem). Nghiên cứu chỉ ra 50,0% người bệnh có suy giảm chức năng thận. Việc không giảm liều hoặc không kéo dài khoảng cách dùng thuốc sẽ làm tích lũy nồng độ thuốc trong máu, gia tăng độc tính nghiêm trọng trên thần kinh và thận.

Phương pháp truyền tĩnh mạch kéo dài 3 giờ mang lại ưu thế lâm sàng gì?
Do carbapenem có đặc tính diệt khuẩn phụ thuộc vào thời gian nồng độ thuốc tự do duy trì trên ngưỡng ức chế tối thiểu, việc kéo dài thời gian truyền từ 3 đến 4 giờ giúp tối ưu hóa dược lực học của thuốc mà không cần tăng tổng liều hàng ngày, nâng cao tỷ lệ điều trị thành công đối với các vi khuẩn giảm nhạy cảm.

Bệnh viện tuyến tỉnh cần làm gì để tăng tỷ lệ điều trị trúng đích khi sử dụng carbapenem?
Bệnh viện cần thiết lập quy chế bắt buộc lấy mẫu bệnh phẩm vi sinh trước khi tiêm truyền liều kháng sinh đầu tiên, rút ngắn thời gian trả kết quả kháng sinh đồ và tăng cường vai trò của dược sĩ lâm sàng trong việc tư vấn xuống thang kháng sinh ngay khi có kết quả định danh vi khuẩn.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã phân tích toàn diện 520 bệnh án sử dụng carbapenem tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, ghi nhận meropenem chiếm 85,6% và imipenem chiếm 14,4%.
  • Tỷ lệ chỉ định theo phác đồ kinh nghiệm chiếm áp đảo với 89,6%, trong khi chỉ định trúng đích vi sinh chỉ đạt 10,4% do tỷ lệ nuôi cấy trước điều trị dừng lại ở mức 40,6%.
  • Có 50,0% bệnh nhân người lớn bị suy giảm chức năng thận cần hiệu chỉnh liều, đòi hỏi sự can thiệp liên tục của dược sĩ lâm sàng để đảm bảo an toàn điều trị.
  • Tỷ lệ chỉ định ban đầu không phù hợp chiếm 34,8%, bao gồm các trường hợp lạm dụng trong dự phòng phẫu thuật và nhiễm khuẩn chưa có chỉ định ưu tiên.
  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn đắt giá giúp Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ hoàn thiện chính sách bảo tồn carbapenem trong giai đoạn tới; các cơ sở khám chữa bệnh cần khẩn trương áp dụng quy trình kiểm duyệt kê đơn trước khi cấp phát và tối ưu hóa chế độ liều PK/PD nhằm ngăn chặn làn sóng đa kháng thuốc.