Chương 1. Đặt vấn đề Giới thiệu khái quát nội dung đề tài cần nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và cấu trúc luận văn. 2 document, khoa luan16 of 98. tai lieu, luan van17 of 98.
Tổng quan Mô tả tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện. Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại thành phố Thủ Đức. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày chi tiết những vấn đề lí luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu và giới thiệu các phương pháp nghiên cứu trong khi thực hiện đề tài. Kết quả và thảo luận Đánh giá khả năng nhận biết của người tiêu dùng về sản phẩm cà phê nguyên chất, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm cà phê nguyên chất tại thành phố Thủ Đức và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và xây dựng niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm cà phê nguyên chất tại thành phố Thủ Đức.
Kết luận và đề nghị Trình bày kết quả nghiên cứu chính đã đạt được và ý nghĩa rút ra từ kết quả nghiên cứu. Từ đó đề ra một số kiến nghị liên quan. 3 document, khoa luan17 of 98. tai lieu, luan van18 of 98.
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đề tài đã tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến chủ đề niềm tin trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu khóa luận: Hong – Youl Ha (2004) tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của người tiêu dùng về niềm tin thương hiệu trực tuyến. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc SEM với 198 người khảo sát. Nghiên cứu này xem xét niềm tin của thương hiệu bị ảnh hưởng như thế nào bởi các nhân tố liên quan đến mua hàng trên Web: bảo mật, quyền riêng tư, tên thương hiệu, tính truyền miệng, trải nghiệm trực tuyến tốt và chất lượng thông tin.
Hầu hết các nhân tố trên đều ảnh hưởng đến niềm tin thương hiệu, trong đó nhân tố tên thương hiệu và nhân tố truyền miệng có ảnh hưởng mạnh đến niềm tin thương hiệu. Tác giả cho rằng không phải tất cả các chương trình xây dựng niềm tin điện tử đều đảm bảo thành công trong việc xây dựng niềm tin thương hiệu. Ngoài cơ chế phụ thuộc vào chương trình, việc xây dựng niềm tin thương hiệu điện tử đòi hỏi mối quan hệ có hệ thống giữa người tiêu dùng và một thương hiệu Web cụ thể. Các phát hiện cho thấy niềm tin thương hiệu không được xây dựng trên một hoặc hai thành phần mà được thiết lập bởi mối quan hệ qua lại giữa các thành phần phức tạp.
Bằng cách nghiên cứu kỹ lưỡng các biến số này trong việc xây dựng chiến lược tiếp thị, các nhà tiếp thị có thể nuôi dưỡng lòng trung thành với thương hiệu và đạt được lợi thế cạnh tranh đáng gờm. Kim và cộng sự (2007) đã nghiên cứu về mô hình ra quyết định của người tiêu dùng dựa trên niềm tin trong điện tử thương mại: Vai trò của niềm tin, rủi ro được nhận thức và tiền thân của người tiêu dùng. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến 4 document, khoa luan18 of 98. tai lieu, luan van19 of 98.
tính bình phương bé nhất từng phần (PLS - SEM) để phân tích và kiểm tra mô hình từ bộ dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát trực tuyến 468 sinh viên đại học. Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin và nhận thức rủi ro của người tiêu dùng Internet có tác động mạnh mẽ đến quyết định mua hàng của họ. Xu hướng của người tiêu dùng đối với niềm tin, danh tiếng, quyền riêng tư, bảo mật, chất lượng thông tin của trang web và danh tiếng của công ty có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tin tưởng Internet của người tiêu dùng đối với Website. Điều thú vị là sự hiện diện của bên thứ ba không ảnh hưởng nhiều đến niềm tin của người tiêu dùng.
Hoàng Thị Phương Thảo và Nguyễn Minh Thông (2013) đã thực nghiên cứu về niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam trong mua sắm trực tuyến. Qua khảo sát 200 người sử dụng Internet quan tâm đến việc mua sắm trực tuyến tại TP. HCM bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện và phương phân tích hồi qui đa biến, đơn biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai yếu tố chính ảnh hưởng tới niềm tin là nhận thức về danh tiếng website và chất lượng sản phẩm/dịch vụ trên website.
Khi người tiêu dùng có niềm tin mạnh mẽ với việc mua sắm trực tuyến thì thái độ đối với mua sắm trực tuyến càng tích cực. Kết quả nghiên cứu dẫn tới các gợi ý giải pháp xây dựng niềm tin của người tiêu dùng trong mua sắm trực tuyến. Lien và cộng sự (2015) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của hình ảnh thương hiệu, giá cả, sự tin tưởng và giá trị đối với ý định đặt phòng khách sạn trực tuyến ở Đài Loan. Nghiên cứu này xem xét các tác động trực tiếp và trung gian của hình ảnh thương hiệu, giá cả cảm nhận, sự tin tưởng, giá trị cảm nhận đến ý định đặt phòng của người tiêu dùng và so sánh sự khác biệt về giới tính trong việc đặt phòng khách sạn trực tuyến qua mô hình cấu trúc SEM.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tuyến 366 khách hàng từ 18 tuổi trở lên đã đặt phòng từ các trang web khách sạn tại ba khách sạn gồm the Howard Beach Resort Kenting, the Red Garden Resort và the Kenting Youth Activity Center ở Đài Loan. Các kết quả xác nhận hầu hết các tác động trực tiếp và gián tiếp là phù hợp với các phát hiện từ các nghiên cứu trước đây. Người tiêu dùng ở Đài Loan có xu hướng tin tưởng giá khách sạn phải chăng, thương hiệu khách sạn hấp dẫn, khách sạn đáng tin cậy, khách sạn sẽ cung cấp giá tốt và khả năng họ có ý định đặt phòng là cao. Hình ảnh thương hiệu, giá cảm nhận và giá trị cảm nhận là ba yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến ý định mua hàng.
Tuy nhiên, tác động của niềm tin đến ý định mua hàng là 5 document, khoa luan19 of 98. tai lieu, luan van20 of 98. không đáng kể. Sự khác biệt giữa nam và nữ về ý định mua hàng cũng không đáng kể.
Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại những hạn chế như kết quả của mô hình có thể không áp dụng cho các thị trường/quốc gia khác, người tiêu dùng trẻ tuổi chiếm phần lớn trong mẫu nghiên cứu và các yếu tố như chất lượng trang web, sự hài lòng, những đánh giá trực tuyến vẫn chưa được đề cập trong nghiên cứu. Hoàng Thị Phương Thảo và Nguyễn Hoàng Minh (2016) đã tiến hành nghiên cứu niềm tin và ý định mua sắm qua kênh truyền hình. Bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, nghiên cứu gửi bảng câu hỏi đến 350 người tiêu dùng thường xuyên xem các kênh truyền hình mua sắm. Với tỉ lệ phản hồi 91%, có 318 bảng trả lời hữu dụng được đưa vào xử lý dữ liệu.
Nghiên cứu sử dụng thống kê hồi qui bội để phân tích kết quả và các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sáu nhân tố ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng là danh tiếng, sản phẩm, dịch vụ của kênh truyền hình mua sắm, cùng với tác động từ nhóm tham khảo, khách mời nổi tiếng và người dẫn chương trình quảng cáo. Khi người tiêu dùng có niềm tin vào kênh truyền hình mua sắm thì ý định mua của họ sẽ tích cực hơn. Kết quả nghiên cứu dẫn đến việc gợi ý các giải pháp nhằm gia tăng niềm tin của người tiêu dùng trong mua sắm qua kênh truyền hình.
Chen Lou và Shupei Yuan (2018) đã thực hiện nghiên cứu về người ảnh hưởng trong tiếp thị: giá trị thông điệp và sự tín nhiệm ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng đối với nội dung thương hiệu trên mạng xã hội. Nghiên cứu sử dụng cuộc khảo sát trực tuyến gồm 538 người tham gia mạng xã hội và có theo dõi ít nhất một người có ảnh hưởng. Bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS – SEM), nghiên cứu cho thấy rằng giá trị thông tin của nội dung do người ảnh hưởng tạo, mức độ đáng tin cậy, sự thu hút của người ảnh hưởng và sự tương đồng với người theo dõi có ảnh hưởng tích cực đến niềm tin của người theo dõi đối với các bài đăng có thương hiệu của những người ảnh hưởng và cũng có ảnh hưởng đến nhận thức và ý định hành vi đối với bài đăng có thương hiệu của người ảnh hưởng. Nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế như mô hình chưa đề cập đến (kiến thức người quảng cáo, thuyết phục người theo dõi, khả năng chi trả, tính hữu dụng, động cơ, tính cách).
Nguyễn Kim Nam và Ngô Quang Huân (2018) tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của niềm tin, thái độ, quy chuẩn đến ý định mua thịt lợn của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để phân tích 6 document, khoa luan20 of 98. tai lieu, luan van21 of 98.
dữ liệu trong hai tình huống: Bình thường và xảy ra lo ngại về thực phẩm. Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 249 người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy niềm tin chung ảnh hưởng tích cực đến niềm tin vào nguồn thông tin, thái độ và quy chuẩn chủ quan.
Trong tình huống bình thường, chỉ có thái độ ảnh hưởng tích cực đến ý định. Trong tình huống xảy ra lo ngại về thực phẩm thì thái độ, quy chuẩn chủ quan, niềm tin vào nguồn thông tin chuỗi cung ứng ảnh hưởng tích cực đến ý định. Kết quả hàm ý cho nhà quản trị về vai trò của niềm tin chung và niềm tin vào nguồn thông tin từ chuỗi cung ứng trong việc giải thích ý định mua của người tiêu dùng. Ngoài ra, kết quả cũng cung cấp cho các cơ quan quản lý biết được những nguồn thông tin nào được người tiêu dùng tin tưởng nhất khi xảy ra sự lo ngại về thực phẩm.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn có một số hạn chế nhất định như tính đại diện mẫu nghiên cứu chưa cao; đối tượng khảo sát là người tiêu dùng tại khu vực TP.HCM mà chưa mở rộng sang các khu vực khác để có thể đánh giá một cách đầy đủ hơn; chưa đề cập đến nhân tố (thói quen, hành vi quá khứ, cảm nhận rủi ro).