chương 1: Chương này tác giả trình bày tầm quan trọng của đề tài, các mục tiêu của đề tài, giới hạn về không gian, thời gian nghiên cứu của đề tài, lượt khảo tài liệu và kết quả mong đợi của đề tài đạt được. Luan van 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 2.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 2.1 Khái niệm Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm sau: - Tính vô hình; - Tính không đồng nhất; - Tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ; - Tính không thể dự trữ được; 2.2 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ thông tin di động 2.1 Khái niệm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động (sau đây gọi tắt là DN cung cấp dịch vụ di động) là DN viễn thông được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập mạng, cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất.2 Dịch vụ thông tin di động Dịch vụ TTDĐ mặt đất (gọi tắt là dịch vụ TTDĐ) là một loại hình dịch vụ viễn thông cho phép người sử dụng có thể thực hiện quá trình đàm thoại, trao đổi thông tin bằng thiết bị đầu cuối đặc biệt (bao gồm một điện thoại di động và simcard). Qua quá trình giải mã tín hiệu điện từ của hệ thống thông tin vô tuyến, vào thời điểm thuộc phạm vi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch vụ có thể chủ động khai thác sử dụng dịch vụ.
Dịch vụ TTDĐ bao gồm: dịch vụ TTDĐ trả trước (gọi là dịch vụ trả trước), dịch vụ TTDĐ trả sau (gọi là dịch vụ trả sau). Luan van 8 - Dịch vụ trả trước là dịch vụ mà người sử dụng DV viễn thông thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ trước khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên; - Dịch vụ trả sau là dịch vụ mà người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên.3 Đặc điểm của dịch vụ thông tin di động Mang lại hiệu quả thông tin liên lạc mọi lúc, mọi nơi; có tính bảo mật rất cao vì thông tin trong lúc truyền đi đã được mã hóa; giá của dịch vụ TTDĐ cao hơn giá dịch vụ điện thoại cố định, sản phẩm thay thế chủ yếu; là dịch vụ thông tin liên lạc hiện đại; quyết định mua dịch vụ TTDĐ phức tạp hơn quyết định mua một sản phẩm hữu hình vì khó đánh giá chất lượng.4 Đánh giá chất lượng dịch vụ thông tin di động Chất lượng hoạt động viễn thông di động phụ thuộc vào các yếu tố của môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. Nó được xác định bằng trình độ kỹ thuật của các phương tiện thông tin, bằng việc tổ chức sản xuất, bằng trạng thái mạng lưới kết nối các điểm thông tin, bằng kỹ thuật khai thác thiết bị và công trình viễn thông, bằng việc đạt được tiến bộ KHKT trong các công nghệ và hệ thống truyền thông, bằng hiệu quả sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính, bằng sự chênh lệch giữa kỳ vọng của NTD đối với số lượng, chất lượng các dịch vụ và mức độ hài lòng, thỏa mãn các kỳ vọng đó. Chất lượng hoạt động viễn thông nói chung và viễn thông di động nói riêng trước đây được hiểu đơn giản bao gồm hai khía cạnh: CLDV và CLPV.
- CLDV thể hiện ở các chỉ tiêu như tốc độ truyền đưa tin tức, độ chính xác, trung thực, độ hoạt động ổn định của các phương tiện thông tin. Cụ thể là năng lực phủ sóng của mạng lưới, khả năng thực hiện cuộc gọi thành công đến các vùng trên cả nước, là việc kết nối thông tin không bị nghẽn mạch, tín hiệu đàm thoại rõ ràng, thời gian xử lý sự cố nhanh, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ đa dạng phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau… - CLPV thể hiện qua các chỉ tiêu như mức độ phổ cập các phương tiện thông tin, mức độ thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội về các dịch vụ thông tin, khả năng Luan van 9 phục vụ của mạng lưới giao dịch, thái độ, phong cách phục vụ của nhân viên giao dịch, đảm bảo bí mật thông tin khách hàng, cách thức giải quyết các vấn đề, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng, các dịch vụ CSKH… 2.5 Dịch vụ giá trị gia tăng Khái niệm dịch vụ GTGT luôn đi kèm với khái niệm dịch vụ cơ bản. Trong dịch vụ viễn thông, hai khái niệm này được hiểu như sau: - Dịch vụ cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin giữa hai nhóm hoặc giữa một nhóm người mà không làm thay đổi loại hình dịch vụ hoặc nội dung thông tin. Thông tin được truyền đưa bằng các loại hình kỹ thuật khác nhau tương ứng với các dịch vụ viễn thông cơ bản như: dịch vụ viễn thông cố định, dịch vụ viễn thông di động, dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh, dịch vụ viễn thông di động vệ tinh, dịch vụ vô tuyến điện hàng hải… - Dịch vụ GTGT: là các dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin cho người sử dụng bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông.3 Các nhóm lợi ích của dịch vụ thông tin di động Các công ty viễn thông cung cấp dịch vụ TTDĐ, khách hàng mua dịch vụ và cái họ cần ở đây là những lợi ích mà dịch vụ TTDĐ đem lại.
Chính những lợi ích này tạo ra giá trị dịch vụ khác nhau của từng nhà cung cấp và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Có thể phân ra ba nhóm lợi ích như sau: - Lợi ích chức năng: đó là sự thỏa mãn nhu cầu kết nối thông tin khi cần liên lạc với người khác vào mọi lúc, mọi nơi. Khi khách hàng muốn nói chuyện với bạn bè, khách hàng thực hiện kết nối và họ đàm thoại, khi khách hàng muốn thông tin cho người thân biết về một vấn đề, họ soạn tin nhắn và gửi đi, người thân nhận tin nhắn và biết được một số thông tin quan trọng, nghĩa là khi khách hàng gửi được thông điệp đến đúng người nhận thì lợi ích chức năng đã được thực hiện. Lợi ích chức năng của dịch vụ TTDĐ thường liên quan đến các yếu tố CLDV như khả năng kết nối nhanh chóng, tốc độ truyền thông tin nhanh, sự ổn định của mạng viễn thông, phạm vi phủ sóng… Những yếu tố này đảm bảo sự kết nối thông tin có chất Luan van 10 lượng cho khách hàng trong khi sử dụng dịch vụ.
Nếu một trong các yếu tố này không đạt chất lượng, gây cản trở đến việc truyền thông tin thì lợi ích chức năng không được thực hiện và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp; - Lợi ích tâm lý: thường làm cho người sử dụng dịch vụ cảm thấy sảng khoái về các khía cạnh như: an tâm, giảm rủi ro và sự khan hiếm. Ví dụ như khách hàng cảm thấy yên tâm rằng luôn có thể thực hiện kết nối khi cần nếu sử dụng dịch vụ TTDĐ của công ty A vì theo thống kê thì tỷ lệ kết nối thành công của công ty này đạt đến 99%. Trong thời đại thế giới phẳng hiện nay, thông tin được chia sẻ nhanh chóng và rộng khắp, vì vậy các công nghệ kỹ thuật không còn là bí mật lâu dài để làm thế mạnh cạnh tranh, thì việc thỏa mãn các lợi ích tâm lý đem lại nhiều hơn sự hài lòng từ phía khách hàng, từ đó giúp họ gắn bó với DN. Các DN viễn thông Việt Nam hiện nay cũng đã chú trọng nhiều hơn đến công tác CSKH, định vị thương hiệu, quảng cáo với mục đích thỏa mãn tốt hơn các lợi ích tâm lý cho khách hàng của mình; - Lợi ích kinh tế: liên quan đến chi phí của dịch vụ như tiền cước đắt hay rẻ, nếu nhu cầu thấp nên sử dụng thuê bao trả trước có lợi hơn thuê bao trả sau, số tiền tiết kiệm được hàng tháng nhờ vào các chương trình khuyến mại, các chế độ ưu đãi dành cho khách hàng…Thông thường, khách hàng muốn chi trả ít hơn và nhận được nhiều hơn, như vậy họ đã tối đa hóa độ thỏa dụng của mình.
Các DN khi xây dựng các chiến lược giá cần chú ý cân đối hợp lý sao cho hài hòa giữa lợi ích của khách hàng và lợi nhuận của DN.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 2.1 Khái niệm về hành vi người tiêu dùng 2.1 Khái niệm về hành vi người tiêu dùng (NTD) Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc mua cái gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần, liệu như thế thì sao mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc Luan van 11 chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động (Wayne D. Hành vi mua sắm của NTD là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ (Peter D. Hành vi NTD là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ (Leon Schiffman, David Bednall và Aron O’cass, 2005). Theo Philip Kotler (2004), trong marketing nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi NTD với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, cụ thể là xem NTD muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy NTD mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình.
Nghiên cứu hành vi NTD hiện nay còn vượt xa hơn các khía cạnh nói trên.