Khóa Luận Tốt Nghiệp: Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Cổ Phần Viễn Thông FPT Chi Nhánh Huế

Khóa luận đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần viễn thông FPT chi nhánh Huế, phân tích chiến lược và thị trường hiện tại.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Công Ty Cổ Phần Viễn Thông FPT

Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Viễn thông FPT - Chi nhánh Huế là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh thị trường viễn thông đang phát triển mạnh mẽ. Việc hiểu rõ về năng lực cạnh tranh không chỉ giúp công ty xác định vị thế của mình mà còn tạo ra cơ sở để phát triển các chiến lược kinh doanh hiệu quả. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của FPT tại Huế.

1.1. Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh Trong Ngành Viễn Thông

Năng lực cạnh tranh trong ngành viễn thông được định nghĩa là khả năng của công ty trong việc cung cấp dịch vụ và sản phẩm với chất lượng cao hơn và giá cả hợp lý hơn so với đối thủ. Điều này bao gồm việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng dịch vụ.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh

Đánh giá năng lực cạnh tranh giúp công ty nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu của mình, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp. Điều này không chỉ giúp tăng cường vị thế trên thị trường mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh FPT

Trong quá trình đánh giá năng lực cạnh tranh, Công ty Cổ phần Viễn thông FPT - Chi nhánh Huế phải đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề này không chỉ đến từ nội bộ mà còn từ môi trường bên ngoài. Việc nhận diện và phân tích các thách thức này là rất cần thiết để xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả.

2.1. Áp Lực Từ Đối Thủ Cạnh Tranh

Công ty phải đối mặt với áp lực từ các đối thủ lớn như VNPT và Viettel, những công ty đã có vị thế vững chắc trên thị trường. Điều này đòi hỏi FPT phải không ngừng cải tiến và đổi mới để giữ vững thị phần.

2.2. Thách Thức Từ Thay Đổi Công Nghệ

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và viễn thông tạo ra áp lực lớn cho FPT trong việc cập nhật và áp dụng công nghệ mới. Việc không theo kịp xu hướng công nghệ có thể dẫn đến mất thị phần.

III. Phương Pháp Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Của FPT

Để đánh giá năng lực cạnh tranh, FPT áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phân tích SWOT và mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter. Những phương pháp này giúp công ty có cái nhìn tổng quan về vị thế của mình trên thị trường.

3.1. Phân Tích SWOT Đối Với FPT

Phân tích SWOT giúp FPT nhận diện được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong môi trường kinh doanh. Điều này là cơ sở để xây dựng các chiến lược phát triển phù hợp.

3.2. Mô Hình 5 Lực Lượng Cạnh Tranh

Mô hình này giúp FPT hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong ngành viễn thông, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược hiệu quả hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Năng Lực Cạnh Tranh FPT

Kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của FPT tại Huế đã chỉ ra nhiều điểm mạnh và cơ hội mà công ty có thể khai thác. Việc ứng dụng những kết quả này vào thực tiễn sẽ giúp FPT nâng cao hiệu quả kinh doanh và cải thiện dịch vụ khách hàng.

4.1. Kết Quả Kinh Doanh Của FPT

Kết quả kinh doanh của FPT trong những năm qua cho thấy sự tăng trưởng ổn định, nhờ vào việc cải tiến chất lượng dịch vụ và mở rộng thị trường.

4.2. Ứng Dụng Công Nghệ Mới

FPT đã áp dụng nhiều công nghệ mới trong cung cấp dịch vụ, giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa quy trình làm việc.

V. Kết Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Của FPT Tại Huế

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng FPT có nhiều tiềm năng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, công ty cần phải tiếp tục cải tiến và đổi mới để duy trì vị thế của mình trên thị trường viễn thông tại Huế.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh

Đề xuất các giải pháp như cải tiến dịch vụ khách hàng, đầu tư vào công nghệ mới và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.2. Tương Lai Của FPT Trong Ngành Viễn Thông

FPT cần xác định rõ chiến lược phát triển bền vững để có thể đứng vững và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần viễn thông fpt chi nhánh huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, với đề tài nghiên cứu này sẽ đề cập khái niệm cạnh tranh trong khuôn khổ nền kinh tế. Trong nền kinh tế, cạnh tranh là yếu tố luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường, tùy từng cách hiểu và cách tiếp cạnh mà có nhiều quan điểm về cạnh tranh.

Theo Các Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” (1). Theo Michael Porter (1980) thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua hoặc tranh giành ít nhất giữa hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa” (3). Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” Theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị SVTH: Thái Thị Hoài Nhi 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” (4).

Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể” (5). Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng ngành. Với các cách tiếp cận khác thì cạnh tranh được định nghĩa như sau: Cạnh tranh là sự tranh đua, sự phấn đấu, vươn lên không ngừng giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường bằng các biện pháp khác nhau nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được mục đích kinh doanh cụ thể như thị phần, doanh số, lợi nhuận, danh tiếng… 1.

Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế thị trường ngày nay. Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh, có thể dẫn ra một số quan điểm như sau: Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.

Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và SVTH: Thái Thị Hoài Nhi 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” (6).

Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về năng lực cạnh tranh cố gắng kết hợp cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (7). Ở Việt Nam, theo ý kiến của một số chuyên gia, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn hơn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ” (3). Như vậy, có thể hiểu năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là sự thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinh tế nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, đạt được lợi ích lâu dài, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

Các cấp độ năng lực cạnh tranh Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh, người ta thường xem xét, phân biệt năng lực cạnh tranh theo bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia thường phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực của con người, tài nguyên và vốn của quốc gia đó, nó gắn liền với NLCT của tất cả các chủ thể bên trong nền kinh tế. SVTH: Thái Thị Hoài Nhi 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), thì năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” (8).

Theo báo cáo về NLCT toàn cầu( The Global Competitiveness Report) của diễn đàn kinh tế thế giới( WEF) năm 1997 thì NLCT của một quốc gia là khả năng mà quốc gia đó duy trì và đạt được những tiến bộ trong việc cải thiện mức sống, được phản ánh năng mức tăng GDP trên đầu người (9). “Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu” (Global Competitiveness Report- GCR) do WEF thực hiện và công bố là một trong những báo cáo quốc tế uy tín với lịch sử 40 năm; cung cấp cái nhìn sâu sắc, khá toàn diện phản ánh khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế trên thế giới. Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh của 141 nền kinh tế, thông qua 103 chỉ số chi tiết thuộc 12 nhóm (trụ cột) vấn đề, gồm: (1) thể chế, (2) cơ sở hạ tầng, (3) ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), (4) ổn định kinh tế vĩ mô, (5) y tế, (6) kỹ năng, (7) thị trường hàng hóa, (8) thị trường lao động, (9) thị trường tài chính, (10) quy mô thị trường, (11) mức độ phức hợp trong kinh doanh, và (12) năng lực đổi mới, sáng tạo. Năng lực cạnh tranh cấp ngành Theo Franziska Blunck, năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp (10).

Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Tuy là định nghĩa của cấp ngành, nhưng OECD đã gắn với điều kiện cạnh tranh quốc tế và định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. SVTH: Thái Thị Hoài Nhi 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan Như vậy, năng lực cạnh tranh ngành là năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất.

Năng lực cạnh tranh của một ngành thường xuyên vận động chứ không bất biến, cấu trúc của ngành luôn vận động, biến đổi. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp Ở cấp độ doanh nghiệp, một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được biểu hiện ở khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị phần, mức doanh lợi, lợi nhuận của doanh nghiệp trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Theo Fafchamps cho rằng: “Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì có khả năng cạnh tranh cao hơn” (8).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Công Ty Cổ Phần Viễn Thông FPT Chi Nhánh Huế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng cạnh tranh của công ty trong bối cảnh thị trường viễn thông hiện nay. Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao vị thế của công ty. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về chiến lược phát triển, cũng như cách thức cải thiện dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Để mở rộng kiến thức về năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần nông nghiệp quốc tế hoàng anh gia lai, nơi phân tích các chiến lược cạnh tranh trong ngành nông nghiệp. Ngoài ra, tài liệu 0644 phân tích năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may tây sơn luận văn tốt nghiệp cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về cách thức các công ty may mặc nâng cao năng lực cạnh tranh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh động của công ty siemens vn luận văn thạc sĩ, để thấy được cách mà một tập đoàn lớn như Siemens áp dụng các mô hình cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của mình. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về năng lực cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực khác nhau.