Mở đầu Giới thiệu sự cần thiết của đề tài. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, chương này cũng trình bày bố cục của nghiên cứu. Chương 2 Tổng quan Trình bày về tổng quan về những nghiên cứu trong nước và trên thế giới về Thương mại điện tử.
Bên cạnh đó, tổng quan về Khoa Kinh Tế trường Đại học Nông Lâm TPHCM. Đồng thời cũng tổng quan về TMĐT, tổng quan về thị trường mỹ phẩm tại Việt Nam. Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày cơ sở lí luận về khái niệm TMĐT, TMĐT giữa doanh nghiệp và khách hàng, TMĐT trên nền tang thiết bị di động, lợi ích của thương mại điện tử và khái niệm và đặc điểm của ngành mỹ phẩm. Bên cạnh đó, cũng trình bày về mô hình nghiên cứu gồm mô hình nghiên cứu tham khảo và mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả.
Cuối cùng là trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, quy trình nghiên cứu, thang đo và các khái niệm nghiên cứu mà tác giả đã đề ra. Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trinh bay kết quả thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’ Alpha, phân tích nhân tố khám pha EFA, tương quan Pearson, phân tích hồi quy, kiểm định sự khác biệt trung bình ANOVA và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc day kinh doanh trực tuyến cho các trang đang kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm tại TPHCM. Chương 5 Kết luận và đề nghị Tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, các đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu và trình bay các hạn chế của nghiên cứu. Đồng thời dựa vào kết quả nghiên cứu đưa ra những giải pháp đề xuất nhằm nâng cao sự hiệu quả và sức cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh mỹ phẩm trực tuyến.
CHUONG 2 TONG QUAN 2. Tống quan về những nghiên cứu trong nước và trên thế giới về TMĐT 2. Những nghiên cứu thế giới Joongho Ahn, Jinsoo Park, và Dongwon Lee (2001) đã xây dựng mô hình chap nhận sử dụng thương mại điện tử E-CAM bằng cách tích hợp mô hình TAM với thuyết nhận thức rủi ro. Ajzen và Fishbein, (1975) đề xuất mô hình lý thuyết hành vi hoạch định trên cơ sở phát triển lý thuyết hành động hợp lý với gia định rằng một hành vi có thé được dự báo hoặc giải thích bởi các quyết định đề thực hiện hành vi đó.
Taylor và Todd (1995) đề xuất kết hợp mô hình TAM và mô hình TPB thành mô hình C-TAM-TPB, mở rộng cho ra kết quả rằng mô hình TAM tốt hơn trong việc dự báo quyết định sử dụng công nghệ, mô hình TPB mở rộng cung cấp một sự hiểu biết toàn diện hơn về quyết định hành vi. Kotler, Wong, Saunders và Armstrong G (2005) xác định hành vi mua của người tiêu dùng là “hành vi mua của người tiêu dùng cuối cùng cá nhân và hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân”. Những nghiên cứu tại Việt Nam Nguyễn Thanh Hùng (2009) trong nghiên cứu của mình đã đưa ra hai khái niệm về thực hiện thương mại điện tử đơn giản và thực hiện thương mại điện tử tinh vi. Yếu tố định hướng thị trường và sẵn sàng thương mại điện tử tác động dương đến việc thực hiện thương mại điện tử đơn giản.
Nguyễn Thanh Đan (2017) đã xác định 7 yếu tố tác động đến quyết định mua mỹ phẩm trực tuyến gồm: nhận thức hữu ích, nhận thức dé sử dụng, nhận thức rủi ro, niềm tin, sự thích thú mua sắm, chất lượng thiết kế website và thái độ đối với UGC) trong đó các yếu tố tác động mạnh đến quyết định mua mỹ phẩm trực tuyến là chất lượng thiết kế website, nhận thức dé sử dụng, rủi ro và thái độ đối với UGC. Thống kê mô tả được thực hiện bằng việc phân tích hệ số Cronbach's Alpha và nhân tố khám phá EFA đề chọn lọc các biến quan sát và xác định các nhân tố, độ tin cậy của thang đo của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua mỹ phẩm trực tuyến tại TPHCM, sau đó kiêm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết dé ra dựa trên công cụ thống kê mô tả. Nghiên cứu sử dung phần mềm SPSS dé xử li dit liệu. Hoàng Quốc Cường (2010) đã xác định những nhân tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ mua hàng qua mạng dựa theo mô hình chấp nhận thương mại điện tử E-CAM bao gồm mong đợi về giá, nhận thức sự thuận tiện, nhận thức tinh dé sử dung, ảnh hưởng xã hội, cảm nhận sự thích thú, nhận thức rủi ro khi sử dụng và các biến giới tính, tuổi, thu nhập.
Nguyễn Thị Ngọc Giàu (2016) đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng dịch vụ mua hàng điện trực tuyến, bao gồm hai yếu tổ liên quan đó là quyết định của người tiêu dùng trong việc mua sắm và sử dụng công nghệ thông tin dé thực hiện việc mua sắm. Nghiên cứu cũng đưa ra mô hình 5 yếu tố anh hưởng đến quyết định mua hàng điện trực tuyến là: Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức tính đễ sử dụng, Ảnh hưởng xã hội, Nhận thức kiểm soát hành vi, Nhận thức rủi ro. Dinh Xuân Hùng (2011) thực hiện nghiên cứu của mình đã xác định quyết định mua sắm Voucher khuyến mãi điện tử có 4 nhân tố nhận thức lợi ích ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định mua sắm Voucher khuyến mãi điện tử lần lượt là: Sự giảm giá, Sự lựa chọn sản phẩm, Thông tin phong phú, Sự tiện lợi của khách hàng tác động đến quyết định mua sắm Voucher trực tuyến. Nguyễn Anh Mai (2007) đã khám phá, phân tích và đánh giá những yếu tố có khả năng tác động đến xu hướng thay đôi thái độ sử dụng thương mai tại Việt Nam dựa theo mô hình TAM và mô hình E-CAM.
Lê Thi Kim Dung (2020) trong nghiên cứu của minh đã đưa ra tám nhân tố là cảm nhận về tính hữu ích, cảm nhận về tính đễ sử dụng, nhận thức rủi ro, so sánh tính sẵn có của thông tin, so sánh nỗ lực mua hàng, so sánh nỗ lực tìm kiếm, so sánh sự thuận tiện mua hàng, so sánh chất lượng dịch vụ tác động đến hai nhân tố là hành vi tìm kiếm thông tin trực tuyến và quyết định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam. Tông quan về Thương mại điện tử Thương mại điện tử (TMĐT), còn gọi là E-Commerce, E-Comm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính. TMĐT dựa trên một số công nghệ như chuyền tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi đữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho và các hệ thống tự động thu thập đữ liệu. TMDT hiện đại thường sử dụng mang World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thé bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phâm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”. Khi nói về khái niệm TMĐT (E-Commerce), nhiều người nhằm lẫn với khái niệm của Kinh doanh điện tử (E-Business). Tuy nhiên, TMĐT đôi khi được xem là tập con của kinh doanh điện tử. TMĐT chú trọng đến việc mua bán trực tuyến (tập trung bên ngoài), trong khi đó kinh doanh điện tử là việc sử dụng Internet và các công nghệ trực tuyến tạo ra quá trình hoạt động kinh doanh hiệu quả dù có hay không có lợi nhuận, vì vậy tăng lợi ích với khách hàng (tập trung bên trong).
Ké từ đó, TMĐT đã phát triển dé làm cho sản phẩm dễ dàng khám phá và mua hàng hơn thông qua các nhà bán lẻ và thị trường trực tuyến. Những người làm việc tự do, độc lập, các doanh nghiệp nhỏ và các tập đoàn lớn đều được hưởng lợi từ TMĐT, cho phép họ bán hàng hoá và dịch vụ của mình ở quy mô không thể có với nhà bán lẻ ngoại tuyến truyền thống. Doanh số bán lẻ TMĐT Việt Nam đạt 13,7 tỷ đô la vào năm 2021. Tóm lại, TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử.
Ngoài ra, theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Texas (Mỹ), các học giả cho rằng TMĐT và kinh doanh điện tử đều bị bao hàm bởi nên kinh tế Internet. Tống quan về Khoa Kinh tế trường Đại học Nông Lâm TPHCM 2. Giới thiệu Khoa Khoa Kinh Tế, trải qua hơn 40 năm hoạt động kê từ khi được thành lập năm 1978, hiện là một trong những khoa lớn của trường Đại học Nông Lâm TPHCM, cả về số lượng các chương trình đào tạo, quy mô sinh viên lẫn nguồn nhân lực. Hiện nay, Khoa Kinh Tế đang cung cấp 9 chương trình dao tạo bậc dai học, bao gồm: Kinh tế Nông Nghiệp, Kinh tế Tài nguyên môi trường, Kinh doanh Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Kế toán, Quản trị Kinh doanh (Tổng hợp), Quản trị Kinh doanh thương mại, Quản trị Tài chính, Quản trị Kinh doanh (Chất lượng cao).
Tu năm 2021, Khoa cũng tiếp quản thêm hai chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài từ Trung tâm đào tạo quốc tế của trường, đó là chương trình cử nhân Kinh doanh Quốc tế- International Business (liên kết với Đại học Newcastle, Úc) và chương trình cử nhân Kinh doanh Nông nghiệp quốc té-International Horticulture and Management (liên kết với Đại hoc HAS Applied Science University, Hà Lan). Ngoài bậc cử nhân, Khoa cũng đã xây dựng và dao tạo hai chương trình cao học chuyên ngành Kinh tế Nông Nghiệp và Quản lý Kinh tế, một chương trình Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế Nông Nghiệp. Từ phản hồi của các bên liên quan, tất cả các chương trình đào tạo của Khoa thường xuyên, định kỳ được điều chỉnh và cập nhật để đáp ứng nhu cầu của xã hội và thi trường lao động tại Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á. Các chương trình đào tạo của Khoa Kinh Tế đáp ứng tốt nhu cầu của người học và thu hút được nhiều học viên.