ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội góp phần làm nâng cao năng suất lao động xã hội, đồng thời giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước mang lại thì chúng cũng mang lại những hệ quả về thiên nhiên, môi trường, đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. có thể kể đến từ mức độ nhẹ như những cơn đau đầu do áp lực công việc, các bệnh về hô hấp do sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến mức độ nặng như mắc các bệnh ung thư do hoá chất hay làm việc trong môi trường công nghiệp độc hại,… Nhằm đáp ứng lại nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của con người trước những nguy cơ nêu trên thì ngành dược phẩm cũng phát triển rất mạnh, liên tục ra đời những sản phẩm thuốc mang lại hiệu quả rõ rệt và có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của mỗi cá nhân nói riêng cũng như góp phần vào việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nói chung. Phổ biến nhất không thể không nhắc đến thuốc giảm đau - một loại dược phẩm rất phổ biến được sử dụng với mục đích giúp người bệnh chấm dứt những cơn đau.
Thuốc giảm đau mang lại hiệu quả rõ rệt cho người dùng, từ những cơn đau nhẹ như đau đầu, đau răng, đau cơ cho đến những cơn đau nặng như chấn thương, phẫu thuật hay ung thư. Ngày nay việc mua thuốc giảm đau của người bệnh có thể diễn ra một cách dễ dàng tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên khắp cả nước, khoảng 80% người bệnh thường lựa chọn đi đến các cơ sở bán lẻ thuốc khi họ gặp các vấn đề với cơn đau từ mức độ nhẹ đến trung bình. Vì vậy các cơ sở bán lẻ thuốc là nơi cung cấp thuốc trực tiếp cho người dân, giúp đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho người dân. 1 Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Phân tích tình hình kinh doanh thuốc giảm đau tại nhà thuốc Số 11A trong năm 2022” được thực hiện với 3 mục tiêu như sau: 1.
Phân tích cơ cấu thuốc giảm đau tại nhà thuốc Số 11A trong năm 2022. Phân tích tình hình kinh doanh thuốc giảm đau nhà thuốc Số 11A trong năm 2022. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh thuốc giảm đau tại nhà thuốc Số 11A năm 2022. Từ đó, đề xuất một số giải pháp để cải thiện cũng như nâng cao hiệu quả trong tình hình kinh doanh thuốc giảm đau của nhà thuốc Số 11A.1 Tổng quan về thuốc giảm đau 1.1 Khái niệm Đau là một cảm giác khó chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương của các mô tế bào.Hay đau là kinh nghiệm được lượng giá bởi nhận thức chủ quan tùy theo từng người, từng cảm giác về mỗi loại đau, là dấu hiệu của bệnh tật và phải tìm ra nguyên nhân để chữa [6].
Thuốc giảm đau còn được gọi là thuốc trị đau nhức là một loại dược phẩm làm giảm cho bớt đau. Những triệu chứng nhức đầu, đau khớp xương, nhức mỏi bắp thịt thường được thuyên giảm bằng thuốc giảm đau [6].2 Lịch sử ra đời Ngay từ năm 460-377 Trước Công Nguyên , Hyppocrates người được coi là ông tổ của nghề y. Ông được coi là bác sĩ đầu tiên của y học hiện đại và cũng là người phát hiện tác dụng giảm đau hạ sốt của nước chiết xuất từ vỏ cây liễu (còn gọi là cây thùy dương). Nhưng mãi đến năm 1838 Raffaelle Piria (Ý) mới tinh chế được Acid Acetylsalicylic từ vỏ cây này [7].
Năm 1826, hai học giả Italia là Brugnatelli và Fontana mới chiết xuất thành công chất salicin có trong lá liễu [5]. Đến năm 1828, dược sĩ người Đức Johann Andreas Buchner cải thiện sản lượng chiết xuất salicin có trong lá liễu và đặt tên chính thức cho chất này. Tên "salicin" có nguồn gốc là từ "salix" trong tiếng Latin, có nghĩa là cây liễu [5]. Trong thời kỳ hiện đại, một nhà hoá học người Pháp Charles Frederic Gerhardt, là người đầu tiên tìm ra vào năm 1853 và sau đó đặt tên là aspirin (năm 1899) [7].
Năm 1897, nhà nghiên cứu người Đức Felix Hoffmann, một nhà hóa học thuộc hãng thuốc Bayer chuyển đổi thành công chất salicin thành axit salicylic, chính là thuốc aspirin ngày nay. Ông cũng là người đi đầu trong việc sản xuất hàng loạt loại thuốc giảm đau này và đưa ra ngoài thị trường với bằng độc quyền sáng chế mang tên mình vào năm 1899 [3]. 3 Sau Aspirrin là Phenylbutason (1949) và Indomethacin (1964) được tổng hợp.3 Phân loại thuốc giảm đau Thuốc giảm đau hiện tại được Tổ chức Y tế Thế giới phân loại thành ba nhóm dựa trên tác dụng dược lý và hiệu quả điều trị: Thuốc giảm đau nhóm I: trước đây gọi là thuốc giảm đau ngoại biên, gồm các loại thuốc không opioid như paracetamol, acid acetylsalicylic (aspirin) và thuốc chống viêm không steroid (gọi tắt là các NSAID) như ibuprofen ở liều giảm đau. Các thuốc nhóm này thường được dùng để điều trị cơn đau nhẹ đến trung bình.
Thuốc giảm đau nhóm II: gồm các thuốc opioid yếu như codein và tramadol, thích hợp điều trị các cơn đau cường độ trung bình. Thuốc thường được bán trên thị trường kết hợp với một thuốc giảm đau ngoại biên. Thuốc giảm đau nhóm III: gồm các thuốc opioid mạnh như morphin, điều trị các cơn đau nghiêm trọng, dữ dội và/hoặc không có đáp ứng với các thuốc giảm đau nhóm I và nhóm II.2 Một số nghiên cứu về tình hình kinh doanh thuốc giảm đau 1.1 Trên thế giới Bảng 1. Một số nghiên cứu tình hình kinh doanh thuốc giảm đau trên thế giới STT Tác giả (năm) Tên nghiên cứu Kết quả 1 CM Wilcox, B Mô hình sử dụng và Thuốc giảm đau OTC bao Cryer, nhận thức của công gồm NSAID được sử dụng G Triadafilopoulos chúng về thuốc rộng rãi, thường được sử (2005) giảm đau không kê dụng không đúng cách và có đơn : tập trung vào khả năng gây nguy hiểm, và thuốc chống viêm người dùng thường không 4 không steroid.
biết về khả năng gây tác dụng phụ các hiệu ứng. Can thiệp giáo dục hướng tới cả bệnh nhân và bác sĩ dường như được bảo đảm.Levin, Những thay đổi Việc mở rộng Medicaid đã Chang,Hy, Jones, trong đơn thuốc làm tăng đáng kể lượng C., Alexander, GC giảm đau buprenorphine với đơn thuốc (2018) buprenorphine- naloxone trên naloxone và opiod 100 000 cư dân quận ở các sau khi mở rộng quận mở rộng, cho thấy rằng Medicaid theo đạo việc mở rộng đã cải thiện luật Chăm sóc giá cả khả năng tiếp cận điều trị rối phải chăng loạn sử dụng opioid. Việc mở rộng không làm tăng đáng kể tỷ lệ tổng thể trên 100 000 cư dân của quận về đơn thuốc OPR, nhưng làm tăng dân số có thuốc OPR do Medicaid chi trả. Do đó, phát hiện này cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Medicaid trong việc kiểm soát cơn đau và phòng chống nghiện ngập.2 Tại Việt Nam Bảng 1.
Một số nghiên cứu tình hình kinh doanh thuốc giảm đau tại Việt Nam ST Tác giả (năm) Tên nghiên cứu Kết quả T 1 Nguyễn Phương Tình hình kinh Mảng thuốc giảm đau và hạ sốt: tốc Thảo (2019) doanh thuốc giảm độ sẽ giảm dần do thiếu sự khác biệt đau tại công ty cổ dẫn đến việc cạnh tranh gay gắt với phần dược Hậu thuốc giá rẻ Trung Quốc, Ấn Độ Giang cùng với các công ty nội đia, và khó cạnh tranh lại với thuốc châu Âu có thương hiệu. Bên cạnh đó, việc Chính phủ kiểm soát chặt chẽ thuốc kháng sinh không kê toa trên kênh OTC cũng sẽ làm doanh thu thuốc kháng sinh thông qua kênh phân phối chính gặp nhiều khó khăn 2 Hương, Nguyễn Tình hình kinh Thuốc giảm đau paracetamol tại nhà Thị Thanh, and doanh thuốc giảm thuốc tư nhân ở Nam Định đứng vị Vũ Thị Lan đau paracetamol trí thứ 3 với kết quả này cũng phần Phương (2019) của một nhà nào nói lên các bệnh như nhiễm thuốc tư nhân ở khuẩn, sốt,…là các bệnh phổ biến tỉnh Nam Định. trong cộng đồng 1.3 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc giảm đau tại Việt Nam Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc giảm đau tại nhà thuốcViệt Nam và đánh giá mức độ đau trước và sau khi điều trị. 6 Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc.
Có 43 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Kết quả: Điều trị giảm đau tại nhà thuốcViệt Nam chủ yếu sử dụng thuốc giảm đau nhóm I và thuốc giảm đau nhóm II: Thuốc giảm đau nhóm I (paracetamol, aspirin và các NSAID) Paracetamol Paracetamol là thuốc cơ bản trong điều trị các cơn đau từ nhẹ đến trung bình cũng như trong các trường hợp cần hạ sốt. Paracetamol hiện được coi là thuốc giảm đau cơ sở, được sử dụng ưu tiên cho cả người lớn và trẻ em do có cân bằng lợi ích/nguy cơ tốt Liều paracetamol: Người lớn: 3 g/ngày, chia làm 4 hoặc 6 lần, cách nhau ít nhất 4 giờ. Nhìn chung, không nên vượt quá 3 g/ngày.
Trong trường hợp đau nặng, liều tối đa có thể được tăng lên đến 4 g/ngày. Trẻ em: 60 mg/kg/ngày, chia làm 4 hoặc 6 lần, tức là 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 10 mg/kg mỗi 4 giờ. Trên thực tế, liều sử dụng thường cao hơn, dao động từ 10 đến 15 mg/kg mỗi 4 giờ, đặc biệt là đối với cơn đau sau phẫu thuật. Tổng liều không được vượt quá 80 mg/kg/ngày ở trẻ em có cân nặng dưới 37 kg và 3 g/ngày ở trẻ em có cân nặng trên 37 kg.
Acid acetylsalicylic (aspirin) Acid acetylsalicylic (aspirin) vừa là một thuốc hạ sốt, chống viêm, vừa là một thuốc giảm đau được chỉ định trong các trường hợp đau mức độ nhẹ đến trung bình. Thuốc được sử dụng khá phổ biến trong bệnh thấp khớp để điều trị các triệu chứng viêm và đau. Liều dùng aspirin: Người lớn và trẻ em có cân nặng trên 50 kg (khoảng 15 tuổi): Đau và sốt: 1 g/lần, có thể lặp lại sau mỗi 4 giờ nếu cần, không vượt quá 3 g mỗi ngày (2 g ở người cao tuổi); Sử dụng thuốc đều đặn, tuân thủ chế độ liều kể trên có thể giúp ngăn chặn tái phát cơn đau hoặc sốt; 7 Bệnh nhân không nên dùng aspirin kéo dài trên 3 ngày để hạ sốt và trên 5 ngày để giảm đau mà không được tư vấn của bác sĩ.