CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái niệm về chiến lược Chiến lược là định hướng, hoạch định mục tiêu và hoạt động trong tương lai, đáp ứng tổng quát của chủ thể quản lý với những thay đổi của môi trường. Ngày nay có nhiều cách định nghĩa chiến lược khác nhau, nhưng phổ biến nhất thì theo Aifred Chandler thuộc Đại học Harvard đã định nghĩa: “ Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của nhà trường, đồng thời lựa chọn các cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. B Quinn thì: “ Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết tinh lại với nhau”.
Khẳng định hơn William J, Gluek đã cho rằng : Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của cơ quan đơn vị sẽ thực hiện”. Chiến lược phát triển còn là nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn thắng thế cạnh tranh thì mỗi cơ quan tổ chức có những cách thức và nghệ thuật riêng nhưng chiến lược phát triển cũng góp một vai trò quan trọng trong vấn đề này. Theo ông Kohmae (Nhà kinh tế Nhật) thì mục đích của chiến lược là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá chính xác thời điểm tiến công hay rút lui, xác định rõ ranh giới của sự thoả hiệp, ông nhấn mạnh “ Không có đối thủ cạnh tranh thì không có chiến lược”.
Mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo dành thắng lợi bền vững so với đối thủ cạnh tranh. Prter lại cho rằng “ Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ”. Kế hoạch hoá chiến lược bao gồm tất cả các hoạt động dẫn tới phát triển các nhiệm vụ rõ ràng và các chiến lược tương ứng để đạt được các mục tiêu cho toàn bộ tổ chức. Theo Giáo sư Philipppe Lasserre thì “ Chiến lược là phương thức mà các Học viên: Bùi Huy Cường 9 Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn cao học QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội cơ sở đào tạo sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì những thành công.
Mục tiêu tối thiểu là phải làm sao tiếp tục tồn tại được, nghĩa là phải có khả năng thực hện được các nghĩa vụ trả lương cho giáo viên, một cách lâu dài và có thể chấp nhận được. Còn chính sách là phương cách đường lối hoặc tiến trình dẫn dắt hành động trong khi phân bố sử dụng các nguồn lực của đơn vị. Có thể nói chính sách chính là phương tiện để đạt được các mục tiêu. Chính sách là những chỉ dẫn cho việc làm quyết định hoặc đưa ra quyết định và thể hiện các tình huống thường lặp lại hay có tính chu kỳ.
Giữa chiến lược và chính sách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu chiến lược là một chương trình hành động, tổng quát hướng tới việc đạt được các mục tiêu cụ thể thì chính sách sẽ dẫn dắt chúng ta trong quá trình thực hiện quyết định. Các cấp quản trị chiến lược a. Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty là chiến lược bao trùm toàn bộ các chương trình hành động nhằm mục đích xác định: + Những ngành nghề kinh doanh nào đừng nên tham gia kinh doanh + Xác định kế hoạch phối hợp và phân bổ các nguồn lực giữa các lĩnh vực kinh doanh.
+ Dựa vào kỹ thuật phân tích để đánh giá khả năng thực hiện chiến lược xem xét các chiến lược đang theo đuổi có phù hợp với bối cảnh hoạt động của công ty. + Hiện thực hoá nhiệm vụ chiến lược và các mục tiêu chính Chiến lược cấp công ty có thể là: - Chiến lược tập trung - Chiến lược hội nhập theo chiều dọc - Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm Ngoài những chiến lược trên thì còn có các chiến lược như: Chiến lược cắt giảm, chiến lược liên doanh liên kết, chiến lược ổn định, chiến lược thôn tính. Học viên: Bùi Huy Cường 10 Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn cao học QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội b. Chiến lược cấp doanh nghiệp ( Hay đơn vị kinh doanh) Xác định xem công ty sẽ cạnh tranh như thế nào với những đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Mỗi một đơn vị doanh nghiệp có thể được tổ chức như một đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU_ Strategy Business Unit) chuyên kinh doanh một nhóm sản phẩm dịch vụ tương tụ nhau. Ban quản trị cấp cao của công ty thường coi mỗi SBU như là một đơn vị tương đối độc lập có quyền phát triển chiến lược riêng cho mình để hỗ trợ thực hiện chiến lược cấp công ty. Các chiến lược chức năng Chiến lược này tìm cách sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có nhằm bổ trợ cho việc thực hiện chiến lược cấp doanh nghiệp và chiến lược cấp công ty. Nó bao gồm các chiến lược sau: Chiến lược Marketing, chiến lược nghiên cứu và phát triển , chiến lược vật tư,.
Chú ý: Ba cấp chiến lược trên hợp thành hệ thống chiến lược của công ty kinh doanh đa ngành, trong đó chiến lược cấp thấp hơn bị giới hạn bởi chiến lược cấp trên trực tiếp. Cho nên chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần được phối hợp để đảm bảo sự thành công trên bình diện cả công ty. Do đó, chiến lược cấp dưới hoạch định phải phù hợp với chiến lược cấp trên, hơn nữa nó là bước triển khai của chiến lược cấp trên. Quản trị chiến lược 1.
Khái niệm Quản trị chiến lược Theo Garry D.Smith và cộng sự: “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”. Quản trị chiến lược là quá trình quản lý theo đuổi chức năng nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ của tổ chức đó đối với môi trường. Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của DN. Học viên: Bùi Huy Cường 11 Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn cao học QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Các bước cấu thành quá trình quản trị chiến lược có ảnh hưởng lẫn nhau và có thể diễn ra đồng thời.
Với ý nghĩa đó, quản lý chiến lược là một hệ thống. khi các nhà quản trị tập trung vào một bước cụ thể nào đó, như đề ra mục tiêu thì tất cả các phần cấu thành khác cần phải xem xét quyết định. Vai trò của Quản trị chiến lược Trước hết, quá trình quản trị chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của của mình. Nó khiến cho lãnh đạo phải xem xét và xác diịnh xem tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới một điểm cụ thể nhất định.
Thứ hai, điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi nhanh. Những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ. Phương cách dùng quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhắm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai. Thứ ba, nhờ có quản trị chiến lược các hãng sẽ gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan.
Do sự biến động và tính phức tạp trong môi trường ngày càng gia tăng, hãng cần phải chiếm được vị thế chủ động hoặc thụ động tấn công. Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi các điều kiện dự báo sao cho hãng đạt được mục tiêu đề ra. Thứ tư, lý do quan trọng nhất phải vận dụng quản trị chiến lược là phần lớn các công trình nghiên cứu cho thấy các công ty vận dụng quản trị chiến lược thì đạt kết quả tốt hơn nhiều so với các kết quả mà họ đạt được trước đó. Học viên: Bùi Huy Cường 12 Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn cao học QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1.
Qúa trình Quản trị chiến lược Phân tích môi trường Xác định chức năng nhiệm vụ mục tiêu Mối liên hệ ngược Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược Thực hiện chiến lược Đánh giá và kiểm tra thực hiện Hình 1.1: Qúa trình quản trị chiến lược Nguồn: Garry D.Smith và cộng sự -Phân tích môi trường: Tạo cơ sở căn bản cho việc hoạch định chức năng nhiệm vụ (hoặc khẳng định lại các chức năng nhiệm vụ đã hoạc định từ trước) và hoạch định mục tiêu. - Giúp xác định việc gì cần làm để đạt đựơc mục tiêu và chức năng nhiệm vụ đã đề ra. - Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu: Một điều hết sức quan trọng là hãng phải biết được hướng đi của mình trước khi vận động. Hướng đi này được Học viên: Bùi Huy Cường 13 Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn cao học QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội thiết lập bằng cách hoạch định các mục tiêu giúp hãng tăng khả năng thích ứng với các môi trường hiện tại cũng như tương lai.
Khái niệm mục tiêu có thể phân tích thành 3 phần: chức năng nhiệm vụ, mục đích dài hạn và mục đích ngắn hạn. Bộ phận đầu tiên và lớn nhất của mục tiêu là chức năng nhiệm vụ, nó thể hiện lý do cơ bản để hãng tồn tại. Mục đích ngắn hạn hay dài hạn là cái đích hay kết quả cụ thể hơn mà hãng mong muốn đạt được. Mục đích được rút ra từ chức năng nhiệm vụ và phải nhằm vào việc thực hiện chức năng nhiệm vụ đó.
Sau khi đề ra chức năng nhiệm vụ và mục đích của hãng, mọi người tham gia thực hiện phải biết được chính xác điều hãng muốn đạt được là gì. - Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược: Sau khi phân tích các phương án chiến lược, cần lựa chọn sự kết hợp thích hợp các phương án chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp cơ sở kinh doanh và chiến lược cấp bộ phận chức năng. Một bộ phận không tách rời của việc lựa chọn chiến lược bao gồm một phương pháp được sử dụng một cách phổ biến là lý thuyết và phân tích danh mục vốn đầu tư.