Nguyễn thị chức phân tích kiến thức thái độ thực hành của người bán lẻ thuốc đối với bệnh sa sút trí tuệ tại một số huyện trên địa bàn tỉnh hưng yên năm 2021 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Tài liệu nghiên cứu Nguyễn thị chức phân tích kiến thức thái độ thực hành của người bán lẻ thuốc đối với bệnh sa sút, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I

2022

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về sa sút trí tuệ

1.2. Khái niệm sa sút trí tuệ

1.3. Dịch tễ học sa sút trí tuệ

1.4. Yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ

1.5. Phân loại sa sút trí tuệ

1.6. Cơ chế bệnh sinh của sa sút trí tuệ

1.7. Tổng quan về trí nhớ

1.8. Thuốc điều trị sa sút trí tuệ

1.9. Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến bệnh SSTT

1.10. Vài nét về hệ thống bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.11. Tính cấp thiết của đề tài

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Biến số nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Phương pháp thu thập số liệu

2.8. Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.9. Xử lý và phân tích số liệu

2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kiến thức của NBL về SSTT

3.2. Thái độ của NBL về SSTT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Kiến thức của NBL thuốc về SSTT

4.3. Thái độ của dược sĩ cộng đồng về SSTT

4.4. Thái độ thực hành của dược sĩ cộng đồng đồi với SSTT

4.5. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của NBL thuốc đối với SSTT

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ

Bệnh sa sút trí tuệ (SSTT) đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Tại tỉnh Hưng Yên, người bán lẻ thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và thuốc cho bệnh nhân. Tuy nhiên, kiến thức và thái độ của họ về bệnh này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Việc hiểu rõ về kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân mắc SSTT.

1.1. Khái niệm và dịch tễ học về bệnh sa sút trí tuệ

Sa sút trí tuệ là một hội chứng do bệnh lý của não, thường gặp ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có khoảng 50 triệu người mắc bệnh này trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các tỉnh như Hưng Yên.

1.2. Vai trò của người bán lẻ thuốc trong chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ

Người bán lẻ thuốc không chỉ cung cấp thuốc mà còn là nguồn thông tin quan trọng cho bệnh nhân và gia đình họ. Họ có thể giúp nhận diện các triệu chứng của SSTT và hướng dẫn bệnh nhân đến các cơ sở y tế phù hợp.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nâng cao kiến thức về bệnh sa sút trí tuệ

Mặc dù người bán lẻ thuốc có vai trò quan trọng, nhưng nhiều người trong số họ vẫn thiếu kiến thức về bệnh sa sút trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin sai lệch hoặc không đầy đủ cho bệnh nhân. Các thách thức bao gồm thiếu tài liệu hướng dẫn, sự thiếu quan tâm từ các cơ quan chức năng và sự thiếu hiểu biết về bệnh này.

2.1. Thiếu tài liệu và chương trình đào tạo cho người bán lẻ thuốc

Nhiều người bán lẻ thuốc không được đào tạo bài bản về bệnh sa sút trí tuệ. Việc thiếu tài liệu và chương trình đào tạo chuyên sâu đã dẫn đến sự thiếu hụt kiến thức cần thiết để hỗ trợ bệnh nhân.

2.2. Sự thiếu quan tâm từ các cơ quan chức năng

Các cơ quan chức năng chưa có nhiều chính sách hỗ trợ để nâng cao kiến thức cho người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ. Điều này cần được cải thiện để đảm bảo người bán lẻ thuốc có đủ thông tin và kỹ năng cần thiết.

III. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu về kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu từ người bán lẻ thuốc tại Hưng Yên. Các câu hỏi được thiết kế để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của họ đối với bệnh sa sút trí tuệ. Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích để đưa ra những kết luận chính xác.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu ngẫu nhiên gồm các người bán lẻ thuốc tại Hưng Yên. Thiết kế nghiên cứu bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và phỏng vấn sâu để thu thập thông tin chi tiết.

3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu

Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm thống kê để xác định mối liên hệ giữa kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc đối với bệnh sa sút trí tuệ.

IV. Kết quả nghiên cứu về kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ còn hạn chế. Nhiều người không nhận thức được các triệu chứng và cách điều trị bệnh. Thái độ của họ cũng chưa thực sự tích cực trong việc hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh này.

4.1. Kiến thức của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ

Nghiên cứu cho thấy chỉ có một tỷ lệ nhỏ người bán lẻ thuốc có kiến thức đầy đủ về bệnh sa sút trí tuệ. Hầu hết họ chỉ biết đến bệnh này qua thông tin không chính thức.

4.2. Thái độ của người bán lẻ thuốc đối với bệnh nhân sa sút trí tuệ

Thái độ của người bán lẻ thuốc đối với bệnh nhân mắc bệnh sa sút trí tuệ còn nhiều hạn chế. Nhiều người chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc hỗ trợ và tư vấn cho bệnh nhân.

V. Giải pháp nâng cao kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ

Để nâng cao kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ, cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu và tài liệu hướng dẫn cụ thể. Các cơ quan chức năng cũng cần có chính sách hỗ trợ để cải thiện tình hình này.

5.1. Tổ chức các khóa đào tạo cho người bán lẻ thuốc

Các khóa đào tạo nên được tổ chức định kỳ để cập nhật kiến thức mới nhất về bệnh sa sút trí tuệ cho người bán lẻ thuốc. Điều này sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc tư vấn cho bệnh nhân.

5.2. Cung cấp tài liệu hướng dẫn và thông tin cần thiết

Cần phát hành các tài liệu hướng dẫn chi tiết về bệnh sa sút trí tuệ để người bán lẻ thuốc có thể tham khảo và sử dụng trong công việc hàng ngày.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc

Nâng cao kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh này. Trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để theo dõi sự thay đổi trong kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc.

6.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức

Việc nâng cao kiến thức cho người bán lẻ thuốc sẽ giúp họ trở thành những người tư vấn đáng tin cậy cho bệnh nhân mắc bệnh sa sút trí tuệ.

6.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo và tài liệu hướng dẫn đối với kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc.

14/08/2025
Nguyễn thị chức phân tích kiến thức thái độ thực hành của người bán lẻ thuốc đối với bệnh sa sút trí tuệ tại một số huyện trên địa bàn tỉnh hưng yên năm 2021 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về sa sút trí tuệ 1. Khái niệm sa sút trí tuệ Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật 10 (ICD - 10: International Classification of Diseases), sa sút trí tuệ là một hội chứng do bệnh lý của não, thường có tính chất mãn tính hoặc tiến triển, trong đó có sự xáo trộn nhiều chức năng cấp cao của vỏ não, bao gồm trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và phán đoán. Không có rối loạn ý thức.

Sự suy giảm chức năng nhận thức thường đi kèm, và đôi khi xảy ra trước sự suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, hành vi xã hội, hoặc vận động. Hội chứng này xảy ra trong bệnh Alzheimer, trong bệnh mạch máu não, và trong các điều kiện khác chủ yếu hoặc ảnh hưởng đến não bộ. Sa sút trí tuệ là một hội chứng lâm sàng gây ra do sự thoái hóa thần kinh, chủ yếu gặp ở người cao tuổi [1], đặc trưng bởi sự suy giảm trí nhớ và nhiều lĩnh vực nhận thức khác, kèm theo những rối loạn về hành vi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hàng ngày và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [2].Dịch tễ học sa sút trí tuệ Chứng sa sút trí tuệ là vấn đề gặp phải ở hầu hết các quốc gia trên thế giới [3]. Ước tính trên toàn thế giới có 50 triệu người sống chung với chứng sa sút trí tuệ trong năm 2020, con số này dự kiến sẽ lên đến 152 triệu người vào năm 2050 [12], và cứ sau mỗi 20 năm con số này lại tăng gấp đôi.

Đặc biệt ở các khu vực đang phát triển và kém phát triển, tỷ lệ sa sút trí tuệ đang gia tăng ở mức đáng báo động [3]. Số ca mắc sa sút trí tuệ là ở các nước đang phát triển chiếm 60% tổng số ca mắc sa sút trí tuệ trên toàn thế giới vào năm 2001, ước tính sẽ tăng lên 71% vào năm 2040. Ở Việt Nam chưa có các 3 nghiên cứu mang tính đại diện về tỷ lệ sa sút trí tuệ [4]. Nhưng ở khu vực Đông Nam Á, số người mắc sa sút trí tuệ năm 2010 là 2,48 triệu người, ước tính đến năm 2030 là 5,30 triệu người (tăng 114% so với năm 2010) và năm 2050 là 11,13 triệu người (tăng 349% so với năm 2010) [1].Tỷ lệ sa sút trí tuệ đang gia tăng ở mức đáng báo động ở tất cả các vùng trên thế giới và có liên quan đến sự già hóa dân số.Tỷ lệ mắc chứng sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi, từ khoảng 2 - 3% ở nhóm tuổi 70 - 75, lên 20 - 25% ở nhóm tuổi từ 85 trở lên [6].

Bệnh Alzheimer là thể hay gặp nhất trong các thể sa sút trí tuệ. Tỷ lệ mắc Alzheimer tăng theo tuổi, dự báo là 1/85 người vào năm 2050 [13]. Gánh nặng bệnh tật do chứng sa sút trí tuệ gây ra ước tính cao hơn hầu hết các tình trạng sức khoẻ khác, chỉ sau chấn thương tuỷ sống và ung thư giai đoạn cuối [4]. Yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ 1.

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi - Tuổi: tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ tăng theo tuổi. - Giới tính: tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở phụ nữ cao hơn nam giới. - Di truyền: sa sút trí tuệ khởi phát sớm thường gặp ở những người có tiền sử gia đình bị sa sút trí tuệ, liên quan tới xơ vữa động mạch, gen apolipoprotein E (APoE) [14]. Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi - Các yếu tố nguy cơ gây bệnh mạch máu, nồng độ HDL-cholesterol thấp và LDL-cholesterol cao, tăng huyết áp không được điều trị.

- Tình trạng thừa cân, béo phì, đái tháo đường ở tuổi trung niên và tuổi già. - Trầm cảm hoặc có tiền sử trầm cảm [14]. Phân loại sa sút trí tuệ Phân loại theo ICD- 10: Sa sút trí tuệ (F00 - F03) [15], gồm các thể: F00: Sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer F01: Sa sút trí tuệ thể trong bệnh mạch máu F02: Sa sút trí tuệ khác: - Bệnh Pick - Bệnh Creutzfeldt - Jakob - Bệnh Huntington - Bệnh Parkinson - Sa sút trí tuệ do nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch (HIV) - Các thể sa sút trí tuệ khác F03: Các thể sa sút trí tuệ không xác định Trong đó, hay gặp nhất là sa sút trí tuệ thể Alzheimer (đứng hàng đầu với tỷ lệ 60%) và sa sút trí tuệ do mạch máu (đứng thứ hai với tỷ lệ khoảng 30%) [3]. Chứng sa sút trí tuệ do mạch máu được định nghĩa là sự mất chức năng nhận thức do các bệnh mạch máu não và các thay đổi bệnh lý của tim mạch; biểu hiện chính là sự suy giảm trong học tập và trí nhớ [16].

Nó còn là một yếu tố nguy cơ tiềm tàng góp phần vào sự phát triển của bệnh Alzheimer [17]. Bệnh Alzheimer được mô tả lần đầu tiên vào năm 1906 tại một hội nghị ở Tubingen, Đức bởi Alois Alzheimer, như một “quá trình bệnh nghiêm trọng đặc biệt của vỏ não”. Trong thời gian gần đây, Alzheimer được coi là bệnh mạn tính hoặc tiến triển, đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng nhận thức vượt ra khỏi những gì có thể được coi là hậu quả của sự lão hóa bình thường; ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, học tập, ngôn ngữ [18]. So sánh giữa 2 thể sa sút trí tuệ do mạch máu và Alzheimer thì sa sút trí tuệ do mạch máu có tỷ lệ tử vong cao hơn đáng kể do phải thường xuyên đối mặt với các yếu tố nguy cơ mạch máu cũng như suy giảm vận động.

Cụ thể, 5 chứng sa sút trí tuệ do mạch máu có tỷ lệ sống trung bình thấp hơn 50% (3 - 4 năm ở bệnh nhân sa sút trí tuệ thể do mạch máu so với 6 - 7 năm ở bệnh nhân Alzheimer), chi phí chăm sóc sức khỏe cao hơn, tỷ lệ biến chứng hôn mê cao hơn, nhu cầu về dịch vụ y tế và người chăm sóc nhiều hơn [19]. Cơ chế bệnh sinh của sa sút trí tuệ 1. Cơ chế sa sút trí tuệ thể do mạch máu Hồi hải mã là cấu trúc có vai trò then chốt trong việc hình thành khả năng học tập và trí nhớ. Sự thay đổi cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh do thiếu máu não cục bộ, bao gồm cả sự thiếu hụt trong synap thần kinh, góp phần gây suy giảm nhận thức [17].

Sự điều hòa lưu lượng máu, kiểm soát sự trao đổi qua hàng rào máu- não, góp phần vào quá trình miễn dịch và dinh dưỡng cho tế bào não có vai trò của cơ chế thần kinh. Sự toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của não phụ thuộc vào lượng máu cung cấp liên tục và được kiểm soát tốt. Sự gián đoạn của dòng máu trong não dẫn tới rối loạn chức năng của não và tử vong. Do đó, não được trang bị các cơ chế kiểm soát để đảm bảo việc cung cấp máu cho não đáp ứng được nhu cầu năng lượng của nó.

Thiếu máu não cục bộ có thể làm tăng sự tích tụ peptid Aβ do làm giảm đào thải peptid này qua con đường đào thải chính của nó (hàng rào máu- não). Ngoài ra, thiếu oxy và/ hoặc thiếu máu cục bộ thúc đẩy sự tạo thành Aβ từ protein tiền chất amyloid (APP -amyloid precursor protein). Sự tăng sản xuất và giảm thải trừ Aβ làm tăng lắng đọng Aβ trong não và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các mảng amyloid ở não và ở mạch máu não. Các mảng amyloid này gây rối loạn chức năng của não, có nguy cơ gây phù nề não, giảm dự trữ máu và tăng nguy cơ tổn thương của não [20].

Tổn thương mạch máu do nhiều yếu tố nguy cơ mạch máu là đặc điểm nổi bật của căn bệnh này. Thiếu máu não cục bộ kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên, làm sạch các tổ chức hoại tử. Trong quá trình sửa chữa mô, các tế bào 6 miễn dịch (tế bào microglia) có thể giải phóng các cytokin gây viêm. Sự kích hoạt của các tế bào miễn dịch và sự tích tụ của các cytokin gây viêm trong thiếu máu não cục bộ mạn tính góp phần vào rối loạn chức năng nhận thức ở cả động vật và con người [21].

Cũng giống Alzheimer, bất thường hệ cholinergic có liên quan đến rối loạn chức năng nhận thức ở bệnh nhân sa sút trí tuệ do mạch máu. Các tế bào thần kinh cholinergic ở hồi hải mã đóng một vai trò quan trọng trong chức năng học tập và trí nhớ; các cúc tận cùng trong màng trước synap ở tế bào thần kinh cholinergic rất nhạy cảm với tình trạng thiếu máu cục bộ [22]. Cơ chế sa sút trí tuệ thể Alzheimer Cơ chế bệnh sinh của Alzheimer vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ. Người ta đưa ra 3 giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của Alzheimer như sau: * Giả thuyết cholinergic Cơ chế bệnh sinh của Alzheimer là do sự thoái hóa có chọn lọc của các nhóm nơron thuộc hệ cholinergic dẫn đến làm giảm nồng độ acetylcholin ở hồi hải mã, vỏ não vùng trán, hạnh nhân, các nhân nền, vách trong, là các vùng và cấu trúc có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nhận thức, chú ý, học tập, trí nhớ và các quá trình ghi nhớ khác [18].

Acetylcholin được tổng hợp bởi cholin-acetyltransferase và bị phá huỷ bởi acetylcholinesterase (AChE) sau khi được giải phóng. Do vậy tăng hoạt độ AChE quá mức có thể gây giảm nồng độ acetylcholin ở các vùng não này [13], làm mất dẫn truyền qua synap, dẫn đến bệnh Alzheimer. * Giả thuyết peptid amyloid Peptid amyloid-beta(A ) được tạo ra từ các protein tiền amyloid (APP - Amyloid precursor protein). APP điều hoà sự tăng trưởng, phát triển, hoạt động và sự sống của các tế bào.

Có nhiều con đường phân giải APP [23], nhưng thông thườngAPP được phân cắt bởi ba enzym protease là α, β và γ - 7 secretase [24].Sự phân giải của APP theo trình tự bởi β-secretasevà γ- secretase dẫn đến sự tạo thành và giải phóng peptid Aβ trong não, trong đó A ,A 42 được tạo ra nhiều nhất [25]. Sự phân cắt APP để tạo B. Sự tạo thành các mảng Aβ[26] Aβ[26] Hình 1. Cơ chế tạo thành các mảng amyloid Aβ40 là một polypeptid dài 40 axit amin, Aβ42 là một polypeptid dài 42 axit amin.

Hai axit amin dài hơn này làm cho phân tử trở nên kỵ nước, dẫn đến sự hình thành các mảng amyloid. Các mảng Aβ42 gây độc, phá vỡ các tín hiệu dẫn truyền, gây rối loạn các hoạt động bình thường bên trong tế bào, dẫn đến mất chức năng của synap và chế tế bào thần kinh [27].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ