Tổng quan nghiên cứu

Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả là mục tiêu trọng tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, đồng thời là tiêu chí cốt lõi để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Trong năm 2021, Bệnh viện Mắt Thái Bình – bệnh viện chuyên khoa hạng II tuyến tỉnh với quy mô 110 giường bệnh – đã tiếp nhận 37.049 lượt khám chữa bệnh, trong đó bệnh nhân điều trị ngoại trú chiếm 30.395 lượt, tương đương 82,04% tổng lưu lượng phục vụ. Mặc dù công tác khám chữa bệnh đạt nhiều thành tựu với gần 7.000 ca phẫu thuật an toàn mỗi năm, hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính hệ thống. Tình trạng chỉ định thuốc theo kinh nghiệm, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, chỉ định phối hợp corticoid chưa hợp lý và kê đơn quá nhiều khoản mục trong một lần khám vẫn diễn ra tương đối phổ biến.

Nhằm đánh giá toàn diện mức độ tuân thủ quy chế chuyên môn và chất lượng kê đơn, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng kê đơn thuốc điều trị ngoại trú cho cả hai nhóm đối tượng Bảo hiểm y tế (BHYT) và khám Dịch vụ (DV) trong năm 2021. Mục tiêu cụ thể gồm hai nội dung: mô tả thực trạng thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú theo Thông tư 52/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2018/TT-BYT của Bộ Y tế; đồng thời phân tích các chỉ số kê đơn cốt lõi theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nghiên cứu được triển khai trên 200 đơn thuốc ngoại trú thu thập trong giai đoạn từ ngày 01/09/2021 đến ngày 31/12/2021. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng chuẩn xác để Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện tối ưu hóa danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả can thiệp dược lâm sàng và giảm thiểu gánh nặng chi phí y tế cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng khung chỉ số sử dụng thuốc chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết hợp với Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện. Theo khuyến cáo của WHO, các chỉ số kê đơn tối ưu bao gồm: số thuốc trung bình trong một đơn dao động từ 1,6 đến 1,8 khoản; tỷ lệ đơn kê kháng sinh từ 20,0% đến 26,8%; tỷ lệ đơn kê thuốc tiêm từ 13,4% đến 24,1%; tỷ lệ thuốc kê theo tên chung quốc tế (generic/INN) đạt 100,0%; và tỷ lệ thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu đạt 100,0%.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đối chiếu trực tiếp với các căn cứ pháp lý nghiêm ngặt của Bộ Y tế, bao gồm Thông tư 52/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2018/TT-BYT về quy định đơn thuốc và kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú, cùng Điều 6 Luật Dược năm 2016 quy định nghiêm cấm kê thực phẩm chức năng và mỹ phẩm vào đơn thuốc. Khung nghiên cứu bao quát ba khái niệm cốt lõi: tính hợp pháp của đơn thuốc thông qua việc ghi chép đầy đủ các thông tin hành chính; tính hợp lý trong chỉ định dược lý lâm sàng dựa trên phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10; và tính kinh tế y tế thể hiện qua cơ cấu chi phí thuốc, tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại nhập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang với phương pháp thu thập số liệu tiến cứu từ sổ khám bệnh và bảng kê chi phí thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 01/09/2021 đến ngày 31/12/2021 tại bộ phận cấp phát thuốc BHYT và Nhà thuốc Bệnh viện Mắt Thái Bình. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa alpha bằng 0,05 (tương ứng độ tin cậy 95%, Z bằng 1,96), độ sai lệch tuyệt đối d bằng 0,1 và tỷ lệ nghiên cứu ước tính p bằng 0,5 nhằm tối đa hóa kích thước mẫu. Công thức tính toán cho ra cỡ mẫu tối thiểu là 97 đơn thuốc. Để tăng cường tính đại diện và cân bằng giữa các nhóm đối tượng, tác giả lựa chọn cỡ mẫu chính thức gồm 200 đơn thuốc, chia đều thành 100 đơn BHYT và 100 đơn DV.

Quy trình chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên hệ thống vào khung giờ cố định từ 09h00 đến 10h00 các ngày làm việc trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu, mỗi ngày thu thập 10 đơn BHYT và 10 đơn DV cho đến khi đủ cỡ mẫu quy định. Tiêu chuẩn lựa chọn là các đơn thuốc ngoại trú có chỉ định dùng thuốc trong giai đoạn nghiên cứu, tiêu chuẩn loại trừ là các đơn khám không phát sinh thuốc điều trị. Toàn bộ số liệu được nhập liệu và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả để tính toán tần suất, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình. Phương pháp phân tích này được lựa chọn vì tính trực quan, độ tin cậy cao, phản ánh chính xác sự khác biệt giữa hai hình thức khám chữa bệnh BHYT và Dịch vụ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát việc thực hiện quy chế kê đơn cho thấy các chỉ số hành chính cơ bản đạt tỷ lệ tuyệt đối. 100% đơn thuốc ở cả hai nhóm BHYT và DV đều ghi đầy đủ họ tên, tuổi bệnh nhân, ngày kê đơn, chẩn đoán bệnh theo mã ICD-10, có chữ ký và họ tên bác sĩ, đồng thời 0% đơn có hiện tượng sửa chữa. Tuy nhiên, mức độ tuân thủ các quy định chi tiết còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

  • Thông tin địa chỉ chi tiết đến số nhà hoặc thôn xóm đạt tỷ lệ 0% ở cả 200 đơn thuốc khảo sát. Ghi nhận giới tính đạt 100% ở đơn BHYT nhờ phần mềm tự động nhưng đạt 0% ở đơn DV do mẫu sổ khám viết tay không có mục này. Đặc biệt, đối với nhóm bệnh nhân trẻ em dưới 72 tháng tuổi gồm 15 đơn khảo sát (7 đơn BHYT và 8 đơn DV), 100% đơn ghi đầy đủ số tháng tuổi và tên người giám hộ, nhưng tỷ lệ ghi số CMND hoặc căn cước công dân của người giám hộ đạt 0%.
  • Về quy cách ghi tên thuốc, đơn BHYT có 77,8% lượt thuốc đơn thành phần (81 trên 104 lượt) được ghi đúng theo tên chung quốc tế (INN) hoặc kèm tên thương mại trong ngoặc, trong khi đơn DV chỉ đạt 31,4% (50 trên 159 lượt). Việc ghi số 0 phía trước số lượng thuốc có một chữ số chỉ đạt 17,9% ở đơn BHYT (32 trên 178 lượt) và 27,7% ở đơn DV (46 trên 166 lượt).
  • Về số khoản mục, trung bình một đơn thuốc BHYT chỉ có 2,32 thuốc (dao động từ 1 đến 3 khoản), trong khi đơn DV có trung bình 3,38 khoản mục (dao động từ 1 đến 10 khoản). Trong 100 đơn DV khảo sát có tới 33% đơn kê 4 khoản, 9% đơn kê 5 khoản và 5% đơn kê từ 6 đến 10 khoản mục. Cơ cấu sản phẩm trong 338 khoản của đơn DV bao gồm 78,6% thuốc hóa dược (266 lượt), 16,8% vật tư y tế (57 lượt) và 4,6% thực phẩm chức năng (15 lượt).
  • Tỷ lệ kê đơn chứa kháng sinh lên tới 75,0% ở đơn BHYT (75 đơn) và 72,0% ở đơn DV (72 đơn). Nhóm Quinolon chiếm tỷ trọng chi phối với 60,1% tổng lượt kháng sinh ở BHYT (chủ yếu là Ofloxacin) và 51,0% ở DV (Ofloxacin 36,0%, Levofloxacin 9,0%, Moxifloxacin 6,0%), tiếp theo là nhóm Aminoglycosid như Tobramycin chiếm 18,8% ở BHYT và 37,0% ở DV.
  • Tỷ lệ đơn thuốc có kê Corticoid đạt 34,0% ở đơn BHYT (34 đơn) và lên tới 67,0% ở đơn DV (67 đơn). Đáng chú ý, ở nhóm đơn DV có kê corticoid, có tới 20,8% đơn kê 2 loại corticoid (14 đơn) và 4,6% đơn kê từ 3 loại corticoid trở lên (3 đơn), với 47,0% trường hợp phối hợp cùng lúc 1 corticoid đường uống và 1 corticoid dùng ngoài tra mắt.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm đơn thuốc xuất phát chủ yếu từ mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và cơ chế quản lý viện phí. Đơn BHYT được xử lý qua phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS), giúp tự động hóa việc hiển thị giới tính, kiểm soát trần chi phí và chuẩn hóa danh mục hoạt chất INN đạt 77,8%. Ngược lại, đơn Dịch vụ vẫn áp dụng hình thức ghi tay vào sổ khám bệnh, dẫn đến tỷ lệ ghi tên thương mại đơn thuần lên tới 68,6%, gây khó khăn cho việc quản lý sử dụng thuốc generic.

Tỷ lệ đơn kê kháng sinh ở mức 72,0% đến 75,0% cao gấp gần 3 lần so với ngưỡng tiêu chuẩn của WHO (20,0% đến 26,8%). Thực trạng này phản ánh tâm lý điều trị bao vây của các bác sĩ nhãn khoa nhằm phòng ngừa bội nhiễm trong các bệnh lý bề mặt nhãn cầu như viêm kết mạc (chiếm 29,57% mô hình bệnh tật) và viêm giác mạc (chiếm 8,92%). Tương tự, việc 67,0% đơn DV kê corticoid cùng tình trạng phối hợp đa đường dùng (uống kết hợp nhỏ mắt) tiềm ẩn nguy cơ làm tăng nhãn áp, thúc đẩy đục thể thủy tinh sớm hoặc gây bùng phát nhiễm trùng nấm, virus. Ngoài ra, việc đơn DV xuất hiện 4,6% thực phẩm chức năng và 16,8% vật tư y tế trong cùng một đơn điều trị đã vi phạm trực tiếp quy định của Thông tư 52/2017/TT-BYT.

Để nâng cao tính trực quan trong quản trị bệnh viện, các phát hiện trên cần được mô tả thông qua biểu đồ cột ghép so sánh tương quan tỷ lệ tuân thủ quy chế giữa BHYT và DV, kết hợp biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu các nhóm kháng sinh Quinolon, Aminoglycosid và Beta-lactam. Dữ liệu này cung cấp bằng chứng rõ ràng để Hội đồng Thuốc và Điều trị đưa ra các can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng kê đơn thuốc ngoại trú, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm:

  1. Số hóa toàn diện quy trình kê đơn thuốc ngoại trú: Ban Giám đốc và Phòng Công nghệ thông tin cần hoàn thành việc triển khai phần mềm kê đơn điện tử đồng bộ cho 100% phòng khám Dịch vụ trước quý II năm 2023. Hệ thống phần mềm cần cài đặt thuật toán tự động khóa các trường thông tin bắt buộc như số CCCD người giám hộ của trẻ dưới 72 tháng tuổi, tự động thêm số 0 trước số lượng thuốc dưới 10, hiển thị mặc định tên generic theo INN và ngăn chặn hoàn toàn việc kê thực phẩm chức năng, vật tư y tế vào đơn thuốc hóa dược. Mục tiêu đạt 100% đơn thuốc dịch vụ được in từ hệ thống vi tính.

  2. Thiết lập quy trình giám sát và bình đơn thuốc định kỳ: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp cùng Tổ Dược lâm sàng tổ chức bình đơn thuốc ngoại trú định kỳ mỗi tháng một lần, tập trung kiểm duyệt các đơn thuốc có từ 4 khoản mục trở lên, đơn kê phối hợp từ 2 kháng sinh hoặc 2 loại corticoid trở lên. Mục tiêu kéo giảm tỷ lệ đơn kê kháng sinh ngoại trú từ 75,0% xuống dưới 40,0% và tỷ lệ đơn kê corticoid ở phòng khám dịch vụ từ 67,0% xuống dưới 30,0% trong vòng 6 tháng kể từ khi áp dụng can thiệp.

  3. Chuẩn hóa phác đồ điều trị nhãn khoa nội bộ: Khoa Dược chủ trì, phối hợp với các Trưởng khoa lâm sàng xây dựng và ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhãn khoa ngoại trú cập nhật trước quý III năm 2023. Phác đồ cần quy định rõ ràng chỉ định dùng kháng sinh phổ rộng (Quinolon thế hệ mới), tiêu chuẩn dùng corticoid toàn thân và tại chỗ đối với từng nhóm bệnh kết mạc, giác mạc, thể mi theo mã ICD-10, đảm bảo 100% bác sĩ tuân thủ kê đơn theo danh mục thuốc bệnh viện.

  4. Tăng cường đào tạo chuyên môn và hoạt động Dược lâm sàng: Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến tổ chức các khóa tập huấn thường niên về quy chế kê đơn, cập nhật Luật Dược và cảnh giác dược về tác dụng không mong muốn của corticoid nhỏ mắt cho toàn thể bác sĩ. Đồng thời, bố trí Dược sĩ đại học phụ trách kiểm tra đơn thuốc trực tiếp tại quầy phát thuốc trước khi cấp phát cho người bệnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc & Điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa Mắt: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá toàn diện để ban lãnh đạo bệnh viện rà soát, tái cơ cấu danh mục thuốc BHYT và Nhà thuốc bệnh viện, đồng thời thiết lập các tiêu chí kiểm soát chất lượng khám chữa bệnh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.
  • Dược sĩ bệnh viện và Dược sĩ lâm sàng: Nghiên cứu là cuốn cẩm nang hướng dẫn chi tiết phương pháp phân tích các chỉ số kê đơn, quy trình thu thập và xử lý số liệu đơn thuốc ngoại trú, giúp dược sĩ lâm sàng triển khai hiệu quả hoạt động bình đơn thuốc, tư vấn sử dụng thuốc và kiểm soát chi phí dược dụng.
  • Bác sĩ chuyên khoa Nhãn khoa: Luận văn giúp các bác sĩ thực hành nhận diện những lỗi sai phổ biến trong thao tác kê đơn (ghi thiếu nồng độ, chỉ định thừa khoản mục, lạm dụng biệt dược gốc) và nâng cao ý thức cảnh giác khi chỉ định kháng sinh nhóm Quinolon, Aminosid hoặc phối hợp corticoid tại chỗ.
  • Học viên sau đại học, Dược sĩ Chuyên khoa và sinh viên Y Dược: Đề tài là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu mô tả cắt ngang trong lĩnh vực Tổ chức Quản lý Dược và Dược xã hội học, đặc biệt trong việc vận dụng các chỉ số sử dụng thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới vào bối cảnh y tế Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đánh giá thực trạng kê đơn tại Bệnh viện Mắt Thái Bình dựa trên những căn cứ pháp lý nào? Nghiên cứu dựa trên Thông tư 52/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2018/TT-BYT quy định về đơn thuốc và kê đơn thuốc hóa dược trong điều trị ngoại trú; Thông tư 21/2013/TT-BYT về tổ chức hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị; Điều 6 Luật Dược 2016; cùng các tiêu chuẩn định lượng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Vì sao tỷ lệ kê đơn chứa kháng sinh tại bệnh viện (72,0% - 75,0%) lại vượt xa mức khuyến cáo của WHO (20,0% - 26,8%)? Do đặc thù mô hình bệnh tật tại bệnh viện chuyên khoa mắt có tỷ lệ viêm nhiễm bề mặt nhãn cầu rất cao (viêm kết mạc chiếm 29,57%, tổn thương giác mạc chiếm 8,92%). Các bác sĩ có xu hướng kê kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn và điều trị bao vây theo kinh nghiệm, dẫn đến tỷ lệ chỉ định kháng sinh tăng cao.

Sự khác biệt lớn nhất giữa đơn thuốc BHYT và đơn thuốc Dịch vụ trong nghiên cứu là gì? Đơn BHYT áp dụng phần mềm kê đơn nên tuân thủ tốt việc ghi tên INN (77,8%), số thuốc trung bình thấp (2,32 thuốc/đơn) và 100% là thuốc hóa dược. Ngược lại, đơn Dịch vụ viết tay có số khoản trung bình cao (3,38 khoản/đơn), tỷ lệ ghi tên INN thấp (31,4%), đồng thời có kê lẫn 4,6% thực phẩm chức năng và 16,8% vật tư y tế.

Việc kê phối hợp nhiều loại Corticoid ở nhóm đơn Dịch vụ (25,4%) tiềm ẩn những rủi ro nào? Sử dụng đồng thời corticoid đường uống và đường nhỏ mắt làm tăng mạnh nguy cơ gặp tác dụng phụ nghiêm trọng như tăng nhãn áp thứ phát (glaucoma do corticoid), đục thủy tinh thể tiến triển nhanh, loét trợt giác mạc kéo dài, suy giảm miễn dịch bề mặt nhãn cầu và che lấp các dấu hiệu nhiễm trùng nặng.

Việc kê Thực phẩm chức năng vào đơn thuốc Dịch vụ vi phạm điều khoản nào của pháp luật? Hành vi này vi phạm Khoản 15 Điều 6 Luật Dược năm 2016 và Điểm b Khoản 2 Điều 4 Thông tư 52/2017/TT-BYT. Quy định nêu rõ nghiêm cấm bác sĩ kê vào đơn thuốc các sản phẩm không phải là thuốc, bao gồm thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm trong điều trị ngoại trú.

Kết luận

  • Hoạt động kê đơn ngoại trú tại Bệnh viện Mắt Thái Bình thực hiện xuất sắc các tiêu chí hành chính cơ bản (100% đơn ghi đúng họ tên, tuổi, chẩn đoán, chữ ký bác sĩ) và kiểm soát an toàn tuyệt đối thuốc tiêm ngoại trú (đạt 0%).
  • Công tác ghi chép thủ tục chuyên sâu còn tồn tại thiếu sót lớn: tỷ lệ ghi số CMND/CCCD người giám hộ cho trẻ dưới 72 tháng tuổi đạt 0%, ghi địa chỉ chi tiết số nhà/thôn đạt 0%, và tỷ lệ ghi tên thuốc generic ở đơn Dịch vụ chỉ đạt 31,4%.
  • Số lượng khoản mục trung bình trên một đơn thuốc còn ở mức cao (BHYT là 2,32; Dịch vụ là 3,38 khoản/đơn), cá biệt có đơn dịch vụ kê tới 10 khoản mục và vẫn còn hiện tượng kê lẫn 4,6% thực phẩm chức năng vào đơn thuốc.
  • Tình trạng lạm dụng kháng sinh (72,0% đến 75,0%) và corticoid (34,0% ở BHYT, 67,0% ở DV) diễn ra phổ biến, với sự áp đảo của nhóm Quinolon (Ofloxacin chiếm trên 50%) và nhiều trường hợp phối hợp đa đường dùng tiềm ẩn nguy cơ tai biến nhãn khoa.
  • Việc chuyển đổi số đồng bộ hệ thống kê đơn điện tử cho khu vực khám Dịch vụ và đẩy mạnh can thiệp của Dược lâm sàng là yêu cầu cấp thiết hàng đầu của bệnh viện.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện đầu tiên về thực trạng kê đơn ngoại trú tại Bệnh viện Mắt Thái Bình, chỉ rõ những khoảng trống trong tuân thủ Thông tư 52/2017/TT-BYT. Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thiện phần mềm kê đơn điện tử trong 6 tháng và tiến hành đánh giá lại các chỉ số sau 1 năm can thiệp. Các cơ sở y tế chuyên khoa mắt tuyến tỉnh nên áp dụng ngay quy trình khảo sát này để chuẩn hóa danh mục thuốc, nâng cao an toàn điều trị và bảo vệ tối đa quyền lợi sức khỏe của người bệnh.