phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH Tự Lập. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn Tự Lập. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về phân tích ho t động kinh doanh 1. Các khái niệm * Khái niệm về phân tích Khi nghiên cứu về phân tích hoạt động kinh doanh (PTHĐKD) cần hiểu rõ khái niệm về phân tích. Khái niệm này đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Một số quan điểm tiêu biểu có thể kể đến nhƣ sau: Theo Phạm Thị Gái (2004): “Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”.
[7] Nguyễn Ngọc Quang (2011) cho rằng: “Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng thành nhiều bộ phận khác nhau, từ đó nghiên cứu chúng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành để thấy được bản chất, tính quy luật của hiện tượng trong quá trình nghiên cứu”[12] Nhƣ vậy, có thể hiểu: Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành để thấy được bản chất và tính quy luật của các sự vật, hiện tượng đó. * Khái niệm về phân tích hoạt động kinh doanh Trịnh Văn Sơn & Đào Nguy n Phi (2005) đƣa ra định nghĩa:“PTHĐKD là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của HĐKD, các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp (DN), trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN”[13] Nguyễn Ngọc Quang (2011) cho rằng:“PTHĐKD là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó sử dụng các phương pháp đặc thù như: liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát 4 triển của các hiện tượng nghiên cứu, nhằm phục vụ cho HĐKD có hiệu quả”[12]. Nhƣ vậy có thể hiểu: PTHĐKD là sự chia nhỏ các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành để thấy được bản chất và tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nhằm đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả HĐKD của DN.
Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh Từ những quan điểm về PTHĐKD cho thấy, đối tƣợng của PTHĐKD là các hiện tƣợng, các quá trình và kết quả HĐKD của DN. Kết quả HĐKD có thể là kết quả riêng biệt của từng khâu, từng giai đoạn của quá trình SXKD hoặc có thể là kết quả tổng hợp của cả quá trình SXKD của DN. Những kết quả kinh doanh cụ thể của quá trình SXKD đƣợc biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế. PTHĐKD không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả HĐKD thông qua các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu xem xét các nhân tổ tác động đến kết quả HĐKD của DN.
Tùy theo mối quan hệ với chỉ tiêu (KQKD) mà nhân tố ảnh hƣởng có thể tác động theo chiều thuận hay chiều nghịch của chỉ tiêu phân tích. Tóm lại, đối tƣợng của PTHĐKD là các hiện tƣợng, các quá trình và kết quả HĐKD đƣợc biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể với sự tác động của các nhân tố kinh tế. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Thông tin PTHĐKD giúp cho nhà quản trị nhận thức và cải tạo tình hình tài chính của DN phù hợp với điều kiện cụ thể và yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm đem lại kết quả và hiệu quả kinh doanh tối ƣu. Có nhiều đối tƣợng quan tâm và sử dụng thông tin từ hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế theo những mục tiêu khác nhau.
Các đối tƣợng thƣờng sử dụng các thông tin từ PTHĐKD bao gồm: Chủ doanh nghiệp; Các nhà đầu tƣ; Các tổ chức tín dụng, Ngân hàng, các công ty tài chính; Các cơ quan chức năng 5 của Nhà nƣớc; Công ty kiểm toán; Cán bộ nhân viên; Các chuyên gia phân tích. Với mỗi đối tƣợng thì ý nghĩa của PTHĐKD sẽ khác nhau [10]. Cụ thể: Thứ nhất, PTHĐKD đối với chủ doanh nghiệp Nhà quản trị kinh doanh là những ngƣời trực tiếp quản lý DN, cần phải hiểu rõ tình hình hoạt động SXKD của DN. Do đó, thông tin PTHĐKD cần đáp ứng những mục tiêu sau: - Đánh giá khả năng tài chính, hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời của DN; - Hữu ích cho nhà quản trị trong việc ra các quyết định nhƣ quyết định huy động vốn, tham gia đấu thầu, phân phối lợi nhuận.
- Là cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về cung ứng vật tƣ, huy động và đầu tƣ vốn. PTHĐKD còn là cơ sở đƣa ra các quyết định dài hạn góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh và giúp các DN phát triển. - PTHĐKD còn là cơ sở kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính từ đó giúp DN hoàn thiện cơ chế tài chính. Ngoài ra PTHĐKD còn kiểm tra và đánh giá hoạt động quản lý của các cấp quản trị trong DN từ đó có các biện pháp điều chỉnh phù hợp.
Nhƣ vậy, đối với chủ DN, PTHĐKD là công cụ hữu ích đƣợc dùng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong HĐKD của DN từ đó phát hiện ra các nguyên nhân cho nhà quản trị lựa chọn và đƣa ra quyết định phù hợp. Thứ hai, PTHĐKD đối với các nhà đầu tư Các nhà đầu tƣ của DN bao gồm nhiều đối tƣợng nhƣ: Các cổ đông mua cổ phiếu, các công ty góp vốn li n doanh…Mối quan tâm của các nhà đầu tƣ đó là giá trị của doanh nghiệp, khả năng sinh lời của vốn, cách thức phân chia lợi nhuận…đƣợc thể hiện thông qua một số các chỉ tiêu: - Tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần; - Thu nhập của một cổ phiếu; - Cổ tức trên một cổ phiếu; - Tỷ lệ rủi ro trong đầu tƣ… 6 Thông tƣ PTHĐKD các nhà đầu tƣ sẽ dự đoán giá trị DN, giá trị cổ phiếu, khả năng sinh lời của vốn và lƣờng trƣớc đƣợc các rủi ro có thể xảy ra khi đầu tƣ vào một DN nào đó. Thứ ba, PTHĐKD đối với những người cho vay, các tổ chức tín dụng Các DN ngoài nguồn vốn chủ sở hữu còn cần sử dụng vốn vay để duy trì và tăng trƣởng. Đối với các tổ chức tín dụng và những ngƣời cho vay, PTHĐKD sẽ giúp họ đánh giá những chỉ tiêu sau: - Khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn của DN - Khả năng sinh lời của vốn - Dự đoán triển vọng của doanh nghiệp trong HĐKD đối với khoản vay.
Từ những thông tin này, họ sẽ đƣa ra các quyết định cho vay phù hợp với mục tiêu hạn chế tối thiểu rủi ro đối với vốn cho vay. Thứ tư, PTHĐKD đối với các công ty kiểm toán Thông qua PTHĐKD, các công ty kiểm toán (kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nƣớc) hoặc bộ phận kiểm toán nội bộ của DN có thể đánh giá và xác minh chính xác và khách quan về tình hình tài chính của một DN. Ngoài ra, PTHĐKD còn giúp các chuyên gia kiểm toán dự đoán xu hƣớng tài chính sẽ xảy ra để nâng cao độ tin cậy của các quyết định. Thứ năm, PTHĐKD đối với người lao động Ngƣời lao động trong DN bao gồm cán bộ, công nhân viên.
Họ làm việc tại DN với mong muốn có thu nhập ổn định và có thể phát triển trong tƣơng lai. Chính vì vậy, PTHĐKD giúp họ nắm bắt đƣợc thông tin về tình hình tài chính, đánh giá đƣợc tính ổn định và phát triển trong tƣơng lai của DN. Qua đó, họ sẽ quyết định đƣợc việc gắn bó lâu dài hay không với DN. Tóm lại, PTHĐKD có vai trò quan trọng đối với tất cả các đối tƣợng bao gồm cả đối tƣợng b n trong và đối tƣợng b n ngoài DN.
Đối với nhà quản trị DN, PTHĐKD giúp khắc phục những tồn tại và hạn chế, phát huy những mặt tích cực và dự đoán đƣợc tình hình phát triển của DN trong tƣơng lai. Tr n cơ 7 sở đó nhà quản trị DN sẽ đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn phƣơng án tối ƣu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mình. Các phƣơng pháp phân tích ho t động kinh doanh 1. Phương pháp so sánh So sánh là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong phân tích kinh doanh.
So sánh nhằm xác định xu hƣớng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích [12]. Do vậy, để đảm bảo ý nghĩa của chỉ tiêu khi so sánh, cần phải thực hiện các vấn đề cơ bản nhƣ sau: Xác định gốc so sánh, xác định điều kiện so sánh. * Xác định gốc so sánh Để có thể so sánh đƣợc, cần lựa chọn chỉ ti u để làm căn cứ so sánh hay còn gọi là gốc so sánh. - Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thể là tài liệu thực tế kỳ trƣớc nhằm đánh giá sự biến động, tốc độ tăng trƣởng của các chỉ tiêu thực tế kỳ này; các mục ti u đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức; hay các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể.) nhằm đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ hay mức độ đạt đƣợc của chỉ tiêu nghiên cứu trong cùng khoảng thời gian.
- Về mặt không gian: Gốc so sánh đƣợc lựa chọn cũng có thể là chỉ tiêu tổng thể nhằm đánh giá mức độ phổ biến của chỉ tiêu bộ phận; chỉ tiêu của đơn vị khác có cùng điều kiện hay chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh, hay nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của DN và khả năng đáp ứng nhu cầu. * Về điều kiện so sánh: Để có thể so sánh đƣợc, số liệu của các chỉ tiêu so sánh phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế, về phƣơng pháp tính toán, đơn vị đo lƣờng, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác định. * Về kỹ thuật so sánh: Bao gồm so sánh trực tiếp và so sánh có tính đến hệ số điều chỉnh.