ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó phát triền ngành Dược Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, bên cạnh sự phát triển nội lực, ngành Dược Việt Nam đã chủ động hội nhập khu vực và thế giới nhằm đảm bảo cung ứng đủ thuốc thường xuyên và có chất lượng, phục vụ sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp Dược hoạt động sản xuất, kinh doanh trong cơ chế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp Dược trong nước còn phải tìm hướng xuất khẩu ra các nước.
Chính vì thế, để một doanh nghiệp Dược có thể đứng vững trên thị trường, trước nhiều cạnh tranh và thách thức lớn, đặc biệt trong thời đại 4.0, thì cần phải tự đặt ra cho mình câu hỏi về quản trị cũng như thay đổi, có những bước chuyển mình phù hợp với thời thế, hướng tới mục tiêu lợi nhuận và phát triển bền vững. Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để tìm ra các quyết định kinh doanh, thông qua các tài liệu phân tích cho phép các nhà quản lý nhận thức đúng đắn về khả năng, những hạn chế cũng như thế mạnh của doanh nghiệp mình. Trên cơ sở này, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể ra các quyết định đúng đắn để đạt được những mục tiêu, chiến lược trong kinh doanh. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và phân phối sản phẩm Y dược VHN là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và phân phối thuốc, thực phẩm chức năng.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và phân phối sản phẩm Y dược VHN, đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2020, nhìn nhận lại những gì đã làm được và chưa làm được, cũng như thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt 1 động của năm 2020, từ đó đề xuất một số giải pháp với hy vọng góp phần đổi mới hoạt động của công ty, giúp công ty ngày càng đứng vững, lớn mạnh trong tương lai, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và phân phối sản phẩm Y dược VHN năm 2020” với 2 mục tiêu chính: 1. Mô tả cơ cấu danh mục sản phẩm kinh doanh của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và phân phối sản phẩm Y dược VHN trong năm 2020. Phân tích một số kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và phân phối sản phẩm Y dược VHN năm 2020. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đề xuất một số ý kiến nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm tiếp theo.
Tổng quan về phân tích hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình kết quả hoạt động ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp [10]. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát triển những khả năng tiềm tàng và công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh [10]. Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh.
Thông qua các tài liệu phân tích, cho phép các doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về các khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình [18], [19]. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tác bên ngoài khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích, họ mới có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay với doanh nghiệp.
Yêu cầu của phân tích hoạt động kinh doanh Tính đầy đủ: Nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc nhiều vào sự đầy đủ nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích. Đảm bảo tính toán tất cả các 3 chỉ tiêu cần thiết thì mới đánh giá đúng được đối tượng phân tích. Tính chính xác: Chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc nhiều vào tính chính xác về nguồn số liệu, sự chính xác trong lựa chọn phương pháp phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích [18], [19]. Tính kịp thời: Sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả đạt được, để nắm bắt được những mặt mạnh, những tồn tại trong hoạt động kinh doanh [18], [19].
Thông qua đó đề xuất những giải pháp cho thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo có kết quả và hiệu quả cao hơn. Mặt khác, quá trình kiểm tra, đánh giá có được cơ sở để định hướng nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau nhằm làm rõ các vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm [18], [19]. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động qua các chỉ tiêu kinh tế. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó.
Biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên, do đó phải xác định trị số của các nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh. Phân tích kết quả kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà phải từ cơ sở nhận thức do phát hiện các tiềm năng cần phải được khai thác và những tồn tại yếu kém, nhằm đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục những tồn tại ở doanh nghiệp của mình. Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào kết quả đạt được.
Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện và phát hiện những thay đổi có thể xảy ra. Định kỳ doanh nghiệp phải 4 tiến hành kiểm tra và đánh giá mọi khía cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào các tác động ở bên ngoài để xác định vị trí và hướng đi của doanh nghiệp, các phương án kinh doanh có còn thích hợp nữa hay không? Nếu không phù hợp cần phải điều chỉnh kịp thời.5 Một số chỉ tiêu phân tích hoạt động của doanh nghiệp 1. Cơ cấu sản phẩm kinh doanh Do sự phân công lao động xã hội, cũng như nhu cầu của thị trường, mỗi doanh nghiệp thường đưa ra thị trường một số hàng hóa nhất định. Các loại hàng hóa đó tạo nên cơ cấu sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bởi 2 yếu tố: - Kích thước tập hợp sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường - Cấu trúc bên trong của tập hợp sản phẩm đó Kích thước của tập hợp sản phẩm bao gồm 3 chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều sâu sản phẩm. Cấu trúc bên trong của tập hợp sản phẩm phản ánh mối quan hệ tương tác của từng loại, từng chủng loại trong tập hợp sản phẩm đó. Về mặt lượng, nó được đo bằng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của từng loại sản phẩm trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn bộ tập hợp sản phẩm [12]. Danh mục sản phẩm mới chỉ xác định được kích thước của tập hợp, tức là mới chỉ liệt kê được các loại, các chủng loại sản phẩm, số mẫu mã sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, chứ chưa phản ánh được vị trí, cấu trúc bên trong của tập hợp sản phẩm ấy như cơ cấu sản phẩm [18], [19].
Doanh thu Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu của doanh nghiệp 5 bao gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu từ hoạt động khác [18], [19]. Doanh thu của doanh nghiệp được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính,…trong đó doanh thu thuần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp [12]. Do vậy khi tiến hành phân tích doanh thu, doanh thu thuần được người sử dụng thông tin đặc biệt quan tâm.
Doanh thu thuần của doanh nghiệp là tổng của hai nhân tố: doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần hoạt động tài chính. Trong đó, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là kết quả thu được khi lấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu. Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu phát sinh từ tiền lãi gửi, lãi cho vay, lãi đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, chiết khấu thanh toán, tiền lãi bản quyền, lãi đầu tư khác,…khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu hoạt động tài chính (các khoản chiết khấu thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán,…thuộc hoạt động tài chính) sẽ tạo nên chỉ tiêu doanh thu thuần hoạt động tài chính [18], [19]. Doanh thu của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, là nguồn kinh phí để doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản xuất cũng như thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước.
Chi phí Chi phí là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính trong một thời kỳ nhất định.