CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỀN GIÁ VÀ CHỐNG CHUYỂN GIÁ 1. Những công trình nghiên cứu về hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá 1. Nghiên cứu của nước ngoài * Sách chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu, luận án, luận văn: Đã có nhiều công trình nghiên cứu là sách chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu, luận án, luận văn của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá. Trong đó, tiêu biểu là một số công trình mà tác giả đã sưu tầm được như: (1) Nhóm tác giả Martin Feldstein, James R.
Glenn Hubbard (1995), The Effects Of Taxation On Multinational Corporations, University of Chicago Press. Công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề tác động của chính sách thuế, cách đánh thuế của các quốc gia tới các công ty đa quốc gia và một số cách mà các công ty đa quốc gia sử dụng để né thuế, tránh thuế. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bên cạnh một số mục đích chiếm lĩnh thị trường, nâng cao hiệu suất đầu tư thì mục tiêu giảm thiểu tổng số thuế phải nộp dựa trên sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia là một trong những mục tiêu chính của hoạt động chuyển giá giữa các doanh nghiệp có quan hệ liên kết, công ty đa quốc gia [84]. (2) Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2017), The OECD Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administrations, tài liệu nghiên cứu được Hội đồng OECD thông qua năm sửa đổi bổ sung và phê duyệt năm 1979, bổ sung nhiều vấn đề đã được Hội đồng thông qua ngày 10 tháng 7 năm 2017.
Đây là tài liệu giới thiệu khá chi tiết về vấn đề giá chuyển nhượng và chuyển giá giữa các công ty đa quốc gia trong bối cảnh phát triển kinh tế toàn cầu, đánh giá những tác động tốt, xấu do chuyển giá gây ra đối với các công ty, các nền kinh tế, các quốc gia. Tài liệu Báo cáo đánh luan an 9 giá: Giá chuyển nhượng có ý nghĩa quan trọng đối với cả người nộp thuế và cơ quan thuế vì cả hai đều phải phân chia doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các doanh nghiệp liên kết tại các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau. Vấn đề chuyển giá có khởi nguồn phát sinh từ các giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết hoạt động trong cùng một quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, tài liệu không xem xét các nội dung chuyển giá trong nội địa mà tập trung vào lĩnh vực chuyển giá quốc tế.
Vấn đề chuyển giá quốc tế khó giải quyết hơn vì có liên quan đến nhiều cơ quan thuế và do vậy bất kỳ sự điều chỉnh nào về giá chuyển nhượng tại một quốc gia cũng kéo theo sự thay đổi tương ứng tại quốc gia khác cho phù hợp. Tuy nhiên, nếu quốc gia khác không đồng ý điều chỉnh tương ứng thì doanh nghiệp đa quốc gia sẽ bị đánh thuế hai lần đối với phần lợi nhuận này. Để giảm thiểu rủi ro đánh thuế hai lần cần có sự đồng thuận quốc tế về cách xác định giá chuyển nhượng trong các giao dịch xuyên quốc gia phục vụ cho mục đích tính thuế [89]. (3) John Smullen (2010), Transfer Pricing for Financial Institutions.
Cuốn sách như một cuốn sổ tay giới thiệu kỹ lưỡng về giá chuyển nhượng và việc sử dụng nó trong các tổ chức tài chính cũng như phân tích rõ ràng về tất cả các vấn đề liên quan. Tác giả khẳng định giá chuyển nhượng là một vấn đề quá phức tạp và luôn biến động nên không thể có kế hoạch chi tiết để đối phó thành công. Tuy nhiên, trong cuốn sách này, John Smullen đã đưa ra lý luận và làm rõ thêm về nội dung liên quan đến giá chuyển nhượng. Tác giả đã đưa ra các vấn đề: Giá chuyển nhượng là gì và tại sao nó được sử dụng Vì sao giá chuyển nhượng lại được các tổ chức tài chính nghiên cứu, vận dụng một cách triệt để.
Tại sao mỗi tổ chức lại cần tiếp cận giới thiệu về giá chuyển nhượng một cách khác; Giá chuyển nhượng hoạt động như thế nào trong các tổ chức thương mại; Các loại giá chuyển nhượng khác nhau; Phân tích cụ thể về giá chuyển nhượng của các quỹ, vốn; Làm thế nào để đánh giá các biện pháp thực hiện điều chỉnh rủi ro; Sự phức tạp của ước tính chi phí biên và doanh thu; Động cơ của các cổ đông, các nhà quản lý để tối ưu hóa lợi nhuận; Giá chuyển nhượng hoạt động như thế nào luan an 10 trong chiến lược thông tin quản lý; Công trình nghiên cứu đã đưa ra một số kỹ thuật khác nhau được sử dụng trong định giá chuyển nhượng; Thiết lập giá chuyển nhượng phù hợp với chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp; Thực hiện các quyết định đúng đắn, giảm thiểu rủi ro và đạt kết quả tốt hơn. Đây là cuốn sách dành cho những nhà đầu tư tham gia vào việc huy động và cho vay vốn trên thị trường toàn cầu hiện nay, những người muốn nghiên cứu vấn đề liên quan đến giá chuyển nhượng và các kỹ thuật cần thiết [79]. (4) Đồng tác giả Robert Feinschreiber và Margaret Kent (2012), Asia- Pacific Transfer Pricing Handbook, Nxb Wiley. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề chuyển giá tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia các nước ASEAN, Ấn Độ, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Tài liệu chỉ ra rằng, Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực tăng trưởng mạnh mẽ nhất trên thế giới, tập trung nhiều công ty đa quốc gia đầu tư, các hoạt động chuyển giá diễn ra cũng rất phức tạp với nhiều hình thức khác nhau. Tài liệu chỉ ra một số cách thức chuyển giá phổ biến mà các công ty đa quốc gia đang thực hiện tại khu vực này, đồng thời đưa ra một số giải pháp mà Chính phủ các quốc gia khu vực này đang thực hiện để chống chuyển giá. Tài liệu cũng chỉ ra một vấn đề còn tồn tại chung ở các quốc gia này là còn thiếu các quy định rõ ràng hướng dẫn về chống chuyển giá cũng như còn thiếu các quy định có tính pháp lý trong luật về kiểm soát hay chống chuyển giá [93]. (5) Đồng tác giả Eduardo Baistrocchi và Ian Roxan (2012), Resolving Transfer Pricing Disputes: Global Analysis, Nxb Cambridge University Press.
Tài liệu đã nghiên cứu và phân tích 180 trường hợp chuyển giá ở 20 quốc gia đại diện cho 20 khu vực, nêu các tranh chấp trong chuyển giá, giải thích pháp luật về chuyển giá như thế nào trong thực tế và xem xét tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế. Tài liệu đưa dẫn chứng các trường hợp chuyển giá ở các nước có hệ thống định giá chuyển nhượng ổn định như Đức, Nhật, Anh, Mỹ cũng như những nước mới phát triển như Baxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc. Tài liệu tập trung vào các vấn đề về giá chuyển nhượng nhưng không đề cập đến luan an 11 giải quyết các tranh chấp về giá chuyển nhượng cụ thể. Tất cả các trường hợp chuyển giá nêu trong cuốn sách đều được phù hợp với những nội dung cơ bản trong tài liệu Hướng dẫn Định giá Chuyển đổi của OECD.
Do đó, tài liệu được coi như là một phần bổ sung hết sức cần thiết cho tài liệu Hướng dẫn Định giá Chuyển đổi của OECD đối với các doanh nghiệp đa quốc gia và các Cơ quan quản lý thuế [77]. (6) Gary Stone, chủ biên (2012), “International Transfer Pricing 2012”, Nxb PCW - Nghiên cứu gồm có 2 phần. Phần thứ nhất giới thiệu về các hình thức chuyển giá trên thế giới. Phần thứ 2 đề cập đến các hình thức kiểm soát chuyển giá được nghiên cứu ở một số quốc gia.
Nghiên cứu đề cập nguyên tắc định giá chuyển giao của các công ty đa quốc gia được coi là hợp pháp, không bị cơ quan thuế quy kết về hành vi trốn thuế. Tài liệu cũng cho thấy có những công ty về luật, kiểm toán sẵn sàng cung cấp dịch vụ cũng như tư vấn cho các công ty đa quốc gia về chuyền giá [78]. * Bài báo khoa học: Đã có nhiều bài báo của các tác giả nước ngoài nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề chuyển giá và chống chuyển giá, tiêu biểu như: (1) Tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả Mills, Lillian; Erickson, Merle M.; Maydew, Edward L (1998), Investments in Tax Planning, tạp chí Journal of the American Taxation Association. Tài liệu phân tích, chỉ ra những dấu hiệu bất thường ở một số nhóm các doanh nghiệp có quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh lớn nhưng lại có chi phí về thuế thấp hơn nhóm các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Chuyển giá xuất hiện khi các doanh nghiệp tính toán đến chi phí về thuế trong các kế hoạch đầu tư vào các doanh nghiệp liên kết ở các địa phương có thuế suất thuế TNDN khác nhau để đạt được mức lợi nhuận cao nhất như lợi thế về nguồn lực, sự ưu đãi miễn giảm về thuế thu nhập. Các doanh nghiệp này có sự điều tiết thu nhập trong nhóm để giảm tới mức thấp nhất tổng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong cả nhóm. Tài liệu cũng chỉ ra rằng, các tập đoàn lớn, các công ty đa quốc gia có nhiều cơ hội tham gia tích cực vào các luan an 12 thỏa thuận liên quan đến việc chuyển giá khi tham gia các dự án đầu tư để giảm chi phí về thuế thu nhập doanh nghiệp [85]. (2) Richard Sansing (1999), Relationship-specific investments and the transfer pricing paradox.
Bài viết so sánh tác động của chuyển giá dựa trên phân bổ lợi nhuận trong hệ thống các doanh nghiệp có quan hệ liên kết theo mô hình công ty mẹ-con với doanh nghiệp độc lập có thể so sánh được. Phân tích thông qua mô hình cho thấy lợi nhuận của các công ty con đặt ở nước ngoài thường được phân bổ ít hơn so với lợi nhuận của các công ty con ở cùng quốc gia với công ty mẹ và lợi nhuận của công ty mẹ [91]. (3) Nghiên cứu của nhóm tác giả Bernard, Andrew B. Bradford and Schott, Peter K.
(2006), Transfer Pricing by U.-Based Multinational Firms, tạp chí Tuck School of Business Working Paper, Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, các công ty đa quốc gia có thể thực hiện chuyển giá thông qua việc sử dụng đòn bẩy tài chính, đòn bẩy kinh doanh để làm giảm thuế TNDN. Nghiên cứu đưa ra dẫn chứng về việc các công ty có trụ sở ở Mỹ thành lập các công ty con tại các quốc gia khác để hoạt động kinh doanh.