CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các khái niệm liên quan Khái niệm hiệu quả: Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó.TS Phạm Thị Gái – Phân tích hoạt động kinh doanh, 2009).
Với quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định. Nó được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào.TS Đặng Đình Đào – Kinh tế thương mại, 2019). K Công thức: H = C Trong đó: H: Hiệu quả của hiện tượng (quá trình) đó K: Kết quả đạt được của hiện tượng (quá trình) đó C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó Khái niệm kinh doanh: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.TS Mai Văn Bưu – Lý thuyết quản trị kinh doanh, 2001). 5 Luan van Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là kết quả đạt được trong kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu các mục tiêu kinh doanh xác định.TS Nguyễn Ngọc Huyền - Quản trị kinh doanh, 2013). Một số khái niệm liên quan: a.
Hiệu quả kinh tế, xã hội, kinh tế - xã hội Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu kinh tế (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân. Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định (giải quyết việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội. Hiệu quả kinh tế - xã hội: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân, giải quyết việc làm…). Hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh Hiệu quả đầu tư: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đầu tư xác định.
Hiệu quả kinh doanh: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng doanh thu thuần, lợi nhuận thuần,. Yếu tố đầu vào bao gồm: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay,. Công thức trên phản ánh sức sản xuất của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào được tính cho tổng số và cho riêng phần gia tăng.
Nó phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn. 6 Luan van Cần phân biệt giữa hiệu quả với kết quả và hiệu suất để tránh việc nhầm lẫn dẫn đến đánh giá sai hoạt động kinh doanh. Kết quả là sự phản ánh kết cục cuối cùng của đối tượng nghiên cứu.
Trong doanh nghiệp sau một thời gian làm việc hoặc sau một kỳ kinh doanh thì kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là một khối lượng công việc hoàn thành, một lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh thu bán hàng, lợi nhuận. Hiệu suất là việc đánh giá cường độ hoạt động của đối tượng nghiên cứu. Theo từ điển giải nghĩa kinh tế - kinh doanh, xuất bản năm 1996, hiệu suất (productivity) là tương quan giữa đầu ra hay giá trị sản xuất ra trong một thời gian nhất định và số lượng yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất được đầu ra ấy. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả và hiệu suất là hai chỉ tiêu kinh tế có quan hệ nhân – quả, hiệu quả có thể là kết quả của hiệu suất nhưng nhiều khi hiệu quả không là kết quả của hiệu suất, chẳng hạn hiệu suất sử dụng TSCĐ là so sánh doanh thu (giá trị sản lượng)/Nguyên giá bình quân TSCĐ, chỉ tiêu này có thể cao nhưng không có hiệu quả.
Do TSCĐ đó có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhưng lại tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên vật liệu. làm cho giá thành sản phẩm cao, việc bán sản phẩm sẽ bị lỗ. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả từng lĩnh vực hoạt động Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu của toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó. Hiệu quả lĩnh vực hoạt động: phản ánh trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu xác định.
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh dài hạn Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm. Hiệu quả kinh doanh dài hạn: hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài. Bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu 7 Luan van quả.
Khi đề cập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau: “ Hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo bằng hệ số giữa kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” phản ánh được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả hoạt động kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí. Tuy nhiên, quan niệm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ mối quan hệ này. “ Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của CNXH” cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh. Quan niệm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Lựa chọn quỹ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả là chưa thấy đầy đủ vai trò của tích luỹ là nhằm phát triển sản xuất, là để có quỹ tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai. Không thể đưa quỹ tiêu dùng lên tối đa mà lại không tuân theo một tỷ lệ thích hợp giữa quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng, phải kết hợp một cách tốt nhất lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Quan điểm thương mại hiệu quả: trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động phải tính đến hiệu quả. Cần phải phân biệt hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội.
Hiệu quả thể hiện quan hệ giữa kết quả và chi phí bỏ ra. Trước hết, phải xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh thương mại. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là thước đo để cân nhắc lựa chọn các giải pháp đầu tư, quyết định đầu tư phát triển hay ngừng kinh doanh. Hiệu quả hoạt động kinh doanh có phần định tính và định lượng.
Các chỉ tiêu định lượng như: lợi nhuận, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh,. Chỉ tiêu hiệu quả định tính như: khả năng cạnh tranh, niềm tin của khách hàng, vị thế của doanh nghiệp. Không đạt được hiệu quả hoạt động kinh doanh thì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không thực hiện được, không có hiệu quả hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp không thể tồn tại, hoạt động thương mại sẽ bị ngưng trệ. Bên cạnh đó phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội.
Giải quyết vấn đề xã hội của thương mại trong cơ chế thị trường không giản đơn. Ở đây, phải tính đến vấn đề môi trường, sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các khu vực. Chính sách kinh tế phải gắn liền với chính sách xã hội nhất là đối với vùng kinh tế chậm phát triển, vùng cao và vùng sâu. Suy đến cùng muốn có hiệu quả phải đảm bảo lợi ích vật chất cho các dối 8 Luan van tượng tham gia hoạt động thương mại, lợi ích là chất kết dính các hoạt động theo mục đích chung.
Nguyên tắc các bên tham gia đều có lợi, ai vi phạm sẽ không thể tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại có hiệu quả trước mắt và lâu dài. Tóm lại: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong một khoảng thời gian lao động nhất định”. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tựu chung lại có thể chia thành hai nhóm: a.
Các nhân tố bên trong Lực lượng lao động: Đây là một nguồn lực, một yếu tố đầu vào quan trọng bậc nhất và có tính chất quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày nay, kỹ thuật và công nghệ đã thay đổi phương thức lao động của con người trên nhiều lĩnh vực. Kỹ thuật công nghệ càng phát triển đòi hỏi đội ngũ lao động càng phải có trình độ chuyên môn cao.