MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Đề tài luận án này thuộc loại ứng dụng các kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học vào việc phân tích ngữ liệu văn chƣơng. Hƣớng nghiên cứu này đang đƣợc quan tâm trên thế giới, ở Việt Nam nó cũng đã đƣợc thực hiện trên một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ với những đề tài cụ thể khác nhau. Đối với luận án này, lí do chọn đề tài này là sự chuyển hƣớng trong ngôn ngữ học và trong nghiên cứu văn học trong những thập kỉ gần đây.
Sự chuyển hướng trong nghiên cứu ngôn ngữ học Trong tiến trình lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học từ đầu thế kỉ XX đến nay có một sự thực là các kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học thƣờng đƣợc chuyển dùng vào một số ngành khoa học xã hội khác, và trƣớc hết và gần gũi hơn cả là chuyển dùng vào việc nghiên cứu văn học. Mấy mƣơi năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, ngôn ngữ học chuyển sang lĩnh vực mới là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng. Các kết quả nổi bật của giai đoạn mới này một bên là Dụng học (Pragmatics), và gần nhƣ đồng thời là Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) và tiếp theo là Phân tích diễn ngôn phê bình (Critical Discourse Analysis). Các môn học mới này cùng một lúc tác động mạnh mẽ đến văn học, nhất là trong việc phân tích ngôn ngữ văn chƣơng.
Đƣờng hƣớng của Phê bình ngôn ngữ học là ứng dụng các kết quả của Dụng học và thái độ phê bình mác-xít vào việc phân tích tác phẩm văn chƣơng, để tìm đến cách nhìn của tác giả tồn tại trong tác phẩm (diễn ngôn). Ngƣời ta cho rằng trong mọi diễn ngôn nghiêm chỉnh đều có thể truy đến cái ngọn nguồn ý thức hệ của nó (đối với ngôn ngữ văn chƣơng thì đó là cái ngầm ẩn đằng sau những lời lẽ mang tính nghệ thuật, nhƣ là lớp ―nguỵ trang‖ của ý thức hệ đó). Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi chỉ dừng lại ở các cách nhìn cụ thể của tác giả, không nâng lên thành ý thức hệ, vì qua một vài trƣờng hợp cụ thể chƣa thể khẳng định cả một khuynh hƣớng chung. -1- Mục tiêu mà các kết quả mới của ngôn ngữ học hƣớng đến kể từ sau cấu trúc luận và kí hiệu học, tức là vài ba thập kỉ cuối thế kỉ XX đến nay, có thể thấy đƣợc một cách khái quát trong cách chuyển trọng tâm của cách nhìn đối tƣợng đƣợc nghiên cứu: Từ việc tìm hiểu ‗ngôn ngữ là cái gì‘ (‗what language is‘) trong nửa đầu thế kỉ XX, tức là tìm hiểu chính bản thân hệ thống ngôn ngữ, điều mà thế kỉ XIX chƣa làm đƣợc, chuyển sang giải thích ‗ngôn ngữ là để làm gì‘ (‗why language is‘), nhằm tìm biết ý định của ngƣời dùng ngôn ngữ và bằng cách dùng ngôn ngữ, để đạt đƣợc ý định đó.
Sự chuyển hướng trong nghiên cứu văn học Trƣớc hết, tại Việt Nam, có thể nêu một nhận xét khái quát rằng việc nghiên cứu các tác phẩm văn chƣơng từ giác độ phê bình văn học, từ nửa đầu thế kỉ XX trở về trƣớc nhìn chung, thƣờng chỉ đƣợc quan tâm theo kiểu đóng kín, với cách nhìn tác phẩm văn học nhƣ là một sản phẩm tự trọn vẹn (total) trong bản thân nó. Thế nhƣng có một tình hình ngƣợc lại, các phƣơng pháp nghiên cứu văn học nói chung trên bình diện thế giới, trong đó có phê bình văn học, đã từng chấp nhận các ảnh hƣởng tích cực từ các kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, rõ nhất là các kết quả của cấu trúc luận ngôn ngữ học và kí hiệu học trong giai đoạn từ những năm 60 thế kỉ trƣớc cho đến nay (trong văn học). Và gần đây ngƣời ta đã nói đến sự nối kết giữa ngôn ngữ học và văn học thông qua Phê bình ngôn ngữ học (đặt trong quan hệ với tên gọi quen thuộc Phê bình văn học vốn có từ lâu) [10, tr. Cách ngôn ngữ học tìm hiểu ngôn ngữ theo hƣớng chuyển sang giải thích ‗ngôn ngữ là để làm gì‘ (nhƣ nói trên), với sự quan tâm đến ―ý định‖ và ―cách sử dụng ngôn ngữ nhƣ thế nào‖ để đạt đƣợc ý định đó của ngƣời dùng ngôn ngữ có một hệ quả quan trọng đối với việc nghiên cứu diễn ngôn, kể cả diễn ngôn nghệ thuật, nó gợi ra một sự chuyển biến theo hƣớng nghiên cứu không phải chủ yếu là tìm hiểu ‗đúng là diễn ngôn có ý nghĩa gì‘ (‗just in what discourse means‘), mà tìm hiểu xem ‗diễn ngôn có ý nghĩa đó bằng -2- cách nào‘ (hay ‗có ý nghĩa nhƣ thế nào‘— ‗how discourse means‘).
Hƣớng nghiên cứu này khiến ngƣời phê bình phải chứng minh nhận xét của mình bằng những chứng cứ có mặt hoặc có thể suy diễn (discursive) đƣợc từ ngữ liệu cụ thể, cùng với sự quan tâm thích đáng đến ngữ cảnh tình huống (context of situation) về phƣơng diện vật lí (không gian, thời gian, đồ vật.) và về xã hội-văn hoá (tính cộng đồng, tập tục, thể chế. Để làm rõ hơn sự chuyển biến kể trên, nếu nhắc lại phê bình văn học trong giai đoạn trƣớc để đối chiếu, có thể nhận ra rằng việc phê bình thời ấy chủ yếu căn cứ vào các ―ý‖ đƣợc diễn đạt sẵn trong tác phẩm qua các từ, các câu, các đoạn v., mà chƣa đặt ra vấn đề các ý đó đƣợc tác giả của chúng diễn đạt nhƣ thế nào (bằng từ ngữ nào, kiểu câu nhƣ thế nào, v. để đạt đƣợc hiệu quả diễn đạt theo nhƣ ý của tác giả đó, trong khi chúng có thể đƣợc diễn đạt bằng những cách khác nhau). Phê bình trong văn học thời đó thƣờng phải là ngƣời giàu kinh nghiệm đến mức có thể dùng ―trực giác‖ đã có thể ―cảm thụ‖ đƣợc các ý nằm sâu bên trong và bên dƣới câu chữ của diễn ngôn.
Phân tích diễn ngôn (PTDN) và dụng học (DH) không phủ định cách làm việc đó, mà chỉ bổ sung cách phân tích việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả bằng một số thao tác có thể là đủ tin cậy, để tìm đến cách nhìn con ngƣời, nhìn thế giới, tìm đến quan điểm của tác giả. Tóm lại, PTDN và DH thiên về cách tìm chứng cứ ngôn từ trong cách dùng ngôn ngữ của tác giả để nhận ra thái độ của tác giả, qua đó tìm đến những bài học sử dụng ngôn ngữ cụ thể từ tác giả. Cái mới của luận án là ở các thủ pháp phân tích và các kết quả phân tích. Ý nghĩa của thủ pháp phân tích là tính khả thi của việc sử dụng hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu ngôn ngữ văn chƣơng.
Ý nghĩa của các kết quả phân tích, ngoài những điểm mới, rõ nhất là bằng phƣơng pháp nghiên cứu mới này có thể góp phần khẳng định các nhận định đã có một cách có cơ sở; và nhƣ vậy cũng là góp thêm vào phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn chƣơng một luồng gió mới từ phía ngôn ngữ học. Tổng quan tình hình nghiên cứu (lịch sử nghiên cứu) Các công trình nghiên cứu, nhìn chung, đƣợc chia khái quát thành hai loại: nghiên cứu lí thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Các công trình nghiên cứu lí thuyết có nguồn gốc từ nước ngoài Về PTDN và DH, các công trình nghiên cứu lí thuyết ở nƣớc ngoài đã khá nhiều, không dễ kiểm điểm lại đƣợc. Mặt khác các công trinh có tính chất cốt lõi của hai lí thuyết này cũng đã đƣợc du nhập vào Việt Nam từ những thập niên cuối thế kỉ XX dƣới hình thức giới thiệu phần lí thuyết bằng tiếng Việt và dịch sang tiếng Việt.
Nhƣ vậy, đề cho gọn (có phần do sự khống chế về số trang dành cho một luận án), chúng tôi xin điểm diện một số công trình lí thuyết tiêu biểu của hai hƣớng nghiên cứu này đã đƣợc giới thiệu bằng tiếng Việt tại Việt Nam. Công trình nghiên cứu lí thuyết DH bằng tiếng Việt ở Việt Nam Các công trình giới thiệu về lí thuyết DH tại Việt Nam có thể dễ tiếp cận, đã đƣợc chúng tôi đƣa vào danh sách TÀI LIỆU THAM KHẢO cuối sách. Để khỏi lặp lại, ở đây chúng tôi xin dẫn các tài liệu chính gồm có các số đặt trong ngoặc vuông sau đây của TÀI LIỆU THAM KHẢO (không dẫn tên tài liệu đầy đủ): a. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993), số [14]; Đỗ Hữu Châu (2000) số [15] và (2001) số [16].
Nguyễn Đức Dân (1996), số [19] và (1998), số [20]. Công trình nghiên cứu phương pháp PTDN bằng tiếng Việt Các công trình bàn về PTDN tại Việt Nam có thể dễ tiếp cận, gồm: a. Diệp Quang Ban, (2002), số [5], (2009, in lại 2012), số [9]. Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Trần Thuần 2002), số [13]., Dẫn nhập Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh, Diệp Quang Ban hiệu đính, 1997, số [61].
Trần Ngọc Thêm (1985, in lần hai 1999, số [72], (1996) số 73] và (1996), số [74]. (1) Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội (in lần thứ hai 1999.
Nxb Giáo dục). Về công trình nghiên cứu ứng dụng về DH và PTDN ở Việt Nam Các nội dung lí thuyết về DH và về PTDN đƣợc nhanh chóng ứng dụng vào việc nghiên cứu ngữ liệu tiếng Việt và ngữ liệu đối chiếu Việt ngữ-ngoại ngữ, với tƣ cách các công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ. Tuy chỉ vài chục năm lại đây, nhƣng số công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ đã lớn đến mức khó kiểm soát hết đƣợc, trong đó có một thực tế là số đơn vị là cơ sở đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ trong nƣớc mỗi năm một tăng. Vì lẽ đó, sau đây chúng tôi chỉ nêu định hƣớng chung của việc nghiên cứu DH và PTDN trong một số công trình nghiên cứu đã có.
Về công trình nghiên cứu ứng dụng DH ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ chung quanh các vấn đề về Dụng học của ngôn ngữ Việt và đối chiếu tiếng Việt với tiếng nƣớc ngoài (nhiều nhất là tiếng Anh) đến nay đã đạt đến số lƣợng không kiểm soát hết đƣợc. Vì lí thuyết DH không phải là nội dung chính của luận án này, chúng tôi xin liệt kê một số nội dung thƣờng đƣợc nhắc đến sau đây. - Trƣớc hết là về các tiểu từ tình thái của tiếng Việt, đây là một lĩnh vực có thể nói là cực kì phức tạp của tiếng Việt, bởi số lƣợng của chúng không nhỏ, ý nghĩa của chúng khá mơ hồ mà lại có tầm quan trọng không thể không tính đến trong giao tiếp.