Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học" của nghiên cứu sinh Vũ Văn Lăng, do Giáo sư, Tiến sĩ Diệp Quang Ban hướng dẫn, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng, mã số 62.05, năm 2013). Luận án thuộc hướng ứng dụng các thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại vào việc phân tích ngữ liệu văn chương, cụ thể là phân tích tác phẩm tự sự của nhà văn Nam Cao.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển của ngôn ngữ học từ nửa cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI, trọng tâm nghiên cứu có sự chuyển biến rõ rệt: từ việc tìm hiểu cấu trúc nội tại "ngôn ngữ là cái gì" (what language is) trong nửa đầu thế kỷ XX sang giải thích chức năng sử dụng "ngôn ngữ là để làm gì" (why language is) và "diễn ngôn tạo ra ý nghĩa bằng cách nào" (how discourse means). Sự ra đời và phát triển của Dụng học (Pragmatics), Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis - PTDN) và Phân tích diễn ngôn phê bình (Critical Discourse Analysis - PTDNPB) đã hình thành nên đường hướng Phê bình ngôn ngữ học.
Tại Việt Nam, phê bình văn học truyền thống chủ yếu tiếp cận tác phẩm như một chỉnh thể khép kín, dựa nhiều vào trực giác và sự cảm thụ cá nhân của nhà phê bình trên bề mặt câu chữ có sẵn, chưa tập trung chứng minh các nhận định bằng hệ thống chứng cứ ngôn từ cụ thể gắn liền với ngữ cảnh tình huống vật lý và xã hội - văn hóa. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng các thủ pháp của Phân tích diễn ngôn và Dụng học để kiểm chứng, giải thích và làm rõ cách tổ chức văn bản nghệ thuật của Nam Cao trên ngữ liệu cụ thể.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là ứng dụng các thủ pháp chuyên môn của Phân tích diễn ngôn và Dụng học nhằm làm sáng tỏ các tầng bậc ý nghĩa trong tác phẩm của Nam Cao dựa trên chứng cứ ngôn ngữ văn bản. Để đạt được mục tiêu này, luận án thực hiện các nhiệm vụ:
- Khảo sát bố cục tác phẩm trong mối quan hệ với tiến trình thời gian thực tế của các sự kiện trần thuật.
- Xác lập mạng lưới nhân vật và các quan hệ liên nhân như một ngữ cảnh xã hội - văn hóa trực tiếp.
- Phân tích các cuộc thoại, cấu trúc lập luận và phương thức sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả.
- Nhận diện các tín hiệu thuộc ký hiệu học xã hội và cách nhìn của tác giả được mã hóa trong văn bản.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác lập 8 giả thuyết nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản như sau:
- Tìm hiểu bố cục (hay kết cấu) của từng tác phẩm trong quan hệ với diễn biến thời gian thực của các sự kiện được phản ánh trong tác phẩm.
- Xác lập các quan hệ giữa các nhân vật như là ngữ cảnh xã hội - văn hóa trực tiếp của nhân vật và nhóm người.
- Nêu chức năng của các nhân vật tiêu biểu khi cần (theo cách tiếp cận của Vladimir Propp).
- Phát hiện các kiểu quan hệ về ý nghĩa giữa các bộ phận khác nhau, kể cả ở bậc câu trong từng tác phẩm, cụ thể là các quan hệ với ngữ cảnh tình huống, nếu chúng có giá trị giải thích nghĩa cho các sự kiện trong tác phẩm.
- Các lời thoại trong các cuộc thoại được phân tích theo phương pháp Phân tích hội thoại của hướng Mỹ.
- Phát hiện và phân tích các kiểu lập luận có vai trò giải thích nghĩa nổi trội trong tác phẩm.
- Phát hiện các ngôn từ giữ vai trò ký hiệu học xã hội được phản ánh trong từng tác phẩm.
- Giải thuyết các từ ngữ, các cách tổ chức câu có giá trị diễn đạt cao được tác giả sử dụng trong tác phẩm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
| Tiêu chí |
Truyện ngắn Chí Phèo |
Tiểu thuyết Sống mòn |
| Thể loại |
Truyện ngắn tự sự |
Tiểu thuyết tâm lý - xã hội |
| Độ dài ngữ liệu |
Hơn 30 trang (trang 69–101 trong tuyển tập) |
Hơn 210 trang (trang 132–344 trong tuyển tập) |
| Thời điểm sáng tác |
Tháng 2 năm 1941 |
Hoàn thành ngày 01 tháng 10 năm 1944 |
| Đặc điểm thi pháp |
Giàu kịch tính, thiên về hành động, sự việc cụ thể, quan hệ tâm lý - hành động trực tiếp |
Đậm nét tâm lý, triết lý, quan hệ tâm lý - hành động gián tiếp qua nhiều lời văn cách xa |
| Không gian nghệ thuật |
Làng quê nông thôn truyền thống (làng Vũ Đại) |
Khu vực ngoại thành "nửa tỉnh nửa quê" |
| Tầng lớp xã hội |
Chức dịch cường hào và bần nông cùng đinh |
Trí thức tiểu tư sản (giáo chức) và thị dân nghèo |
Phạm vi thời gian của các sự kiện trong hai tác phẩm nằm ở giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thời kỳ bộ máy chính quyền thực dân - phong kiến khủng hoảng sâu sắc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm lại lịch sử nghiên cứu theo hai trục: nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng.
Lịch sử nghiên cứu
Các hướng nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu Dụng học: Nền tảng khởi nguồn từ lý thuyết hành vi ngôn ngữ (speech acts) của John L. Austin và John R. Searle, nguyên tắc cộng tác hội thoại (Cooperative Principle) của H. Paul Grice, lý thuyết lịch sự của Geoffrey Leech. Tại Việt Nam, Hoàng Phê đặt nền móng với loạt bài nghiên cứu từ năm 1976 tập hợp trong Logic ngôn ngữ học (1989), tiếp đó là các công trình giáo trình và chuyên khảo của Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993), Đỗ Hữu Châu (2000, 2001), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998).
- Nghiên cứu Phân tích diễn ngôn: Khái niệm xuất phát từ Zellig Harris (1952), trải qua giai đoạn đầu tiếp cận theo hướng "ngữ pháp văn bản". Đến năm 1979, Robert-Alain de Beaugrande xác lập 7 tiêu chuẩn văn bản tính (textuality), khẳng định diễn ngôn là đơn vị nghĩa trên bậc câu. Các công trình tiêu biểu được dịch và giới thiệu tại Việt Nam gồm: Gillian Brown và George Yule (1983), David Nunan (1993, bản dịch tiếng Việt năm 1997 do Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh dịch, Diệp Quang Ban hiệu đính), Norman Fairclough (1992, PTDNPB). Ở trong nước, có công trình của Trần Ngọc Thêm (1985, 1999), Diệp Quang Ban (2002, 2009, 2012) và Nguyễn Hoà (2003).
Các nghiên cứu ứng dụng Dụng học và Phân tích diễn ngôn tại Việt Nam
Tác giả thống kê 13 luận án tiến sĩ tiêu biểu nghiên cứu ứng dụng PTDN và DH tại Việt Nam:
- Phan Thị Ai (2011), Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh phổ thông.
- Trần Thị Vân Anh (2008), Mạch lạc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Trần Xuân Điệp (2002), Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt.
- Nguyễn Thị Hà (2010), Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn.
- Võ Lí Hoà (2004), Tìm hiểu văn bản tóm tắt và phương pháp tóm tắt văn bản.
- Hồ Mỹ Huyền (2007), Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
- Nguyễn Thị Hường (2010), Tìm hiểu một số kiểu mạch lạc trong các thể loại văn bản hành chính-công vụ.
- Lương Đình Khánh (2007), Phương thức liên kết nối và quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn.
- Bùi Văn Năm (2010), So sánh phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh.
- Nguyễn Thị Việt Thanh (1997), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt.
- Nguyễn Phú Thọ (2008), So sánh các biện pháp liên kết từ vựng trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh.
- Nguyễn Xuân Thơm (2001), Các yếu tố ngôn ngữ trong đàm phán thương mại quốc tế (Anh-Việt đối chiếu).
- Phạm Văn Tình (2001), Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết tiếng Việt.
Nhận định của giới nghiên cứu văn học về Nam Cao
Luận án điểm lại các đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học:
- Nguyễn Đình Thi (1956) ghi nhận tính cách tương phản giữa vẻ ngoài thư sinh và sự phản kháng nội tâm mạnh mẽ của Nam Cao.
- Nguyễn Đăng Mạnh (1983) nhấn mạnh nỗi băn khoăn về nhân phẩm và thái độ đứng ra minh oan, chiêu tuyết cho con người bị miệt thị.
- Nguyễn Huy Tưởng (1987) ghi nhận phong thái dè dặt, thấu thị tâm lý của tác giả.
- Hà Minh Đức (1976) phân tích tấn bi kịch bị đẩy vào con đường lưu manh hóa của Chí Phèo và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tiểu tư sản trong Sống mòn.
- Nguyễn Hoành Khung (1978) chỉ ra khuynh hướng dẫn dắt người đọc theo chiều sâu suy nghĩ hơn là cốt truyện ly kỳ.
- Phương Lựu phân tích kết cấu "hô ứng" qua hình ảnh lò gạch cũ ở đầu và cuối truyện Chí Phèo.
- Trần Đăng Suyền khẳng định Chí Phèo là tác phẩm phản ánh xung đột giai cấp trực tiếp quyết liệt, còn Sống mòn là cách tân lớn lao thúc đẩy hiện đại hóa văn xuôi nghệ thuật Việt Nam.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình ứng dụng PTDN trước đó chủ yếu tập trung vào văn bản hành chính - công vụ, đàm phán thương mại, bài làm học sinh hoặc đối chiếu song ngữ. Số lượng công trình khảo sát văn bản nghệ thuật còn hạn chế và chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng lẻ (như mạch lạc). Luận án của Vũ Văn Lăng là công trình chuyên biệt đầu tiên kết hợp đồng thời cả Phân tích diễn ngôn và Dụng học để giải mã toàn diện hai tác phẩm tiêu biểu cho hai thể loại của Nam Cao, chứng minh mối liên kết giữa cấu trúc ngôn từ bề mặt với ngữ cảnh thực tế và cấu trúc văn hóa - xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khung phân tích tích hợp
-
Khung lý thuyết Dụng học:
- Hành động nói (Speech Acts): Phân tích câu ngôn hành trực tiếp theo công thức:
$$\text{Người nói } (SP_1) + \text{Động từ ngôn hành } (V_p) + \text{Người nghe } (SP_2) + \text{Mệnh đề nội dung}$$
Phân tích câu ngôn hành hàm ẩn (implicit performative) dựa trên các từ ngữ hình thức như trợ từ tình thái (hả, nhé), từ cầu khiến (hãy, đừng, chớ, đi, thôi).
- Nguyên tắc cộng tác hội thoại (Cooperative Principle): Khảo sát 4 phương châm (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức). Việc cố ý vi phạm phương châm hội thoại được dùng để phân tích hàm ý hội thoại và tính lịch sự.
- Tiền giả định và Chỉ xuất: Phân tích tiền giả định từ vựng và hệ thống chỉ thị tố (đại từ nhân xưng, chỉ định từ) trong việc tạo mạch lạc và quy chiếu.
- 5 phối cảnh tiếp cận DH theo Bruce Fraser: Ứng dụng quan điểm Dụng học như một "chiếc ô" (umbrella) che phủ các mô-đun ngôn ngữ học (theo Jacob Mey, 1994).
-
Khung lý thuyết Phân tích diễn ngôn:
- 8 đường hướng tiếp cận PTDN (theo Nguyễn Hoà, 2003): (1) Dụng học; (2) Biến đổi ngôn ngữ (phân tích ngôn vực - register của M.A.K. Halliday); (3) Ngôn ngữ học xã hội tương tác (lược đồ SPEAKING 8 yếu tố của Dell Hymes: Setting, Participants, Ends, Act sequence, Key, Instrumentalities, Norms, Genre); (4) Phân tích hội thoại; (5) PTDN trong tâm lý học xã hội (Jonathan Potter); (6) Giao tiếp giao văn hóa; (7) Phương pháp PTDN tích hợp.
- Phương pháp ba chiều đo của Phân tích diễn ngôn phê bình (Norman Fairclough):
- Chiều đo văn bản: Miêu tả hình thức ngôn từ, cấu trúc câu, từ vựng.
- Chiều đo thực tế diễn ngôn: Phân tích quá trình tạo lập, tiếp nhận và ngữ cảnh vật lý của phát ngôn.
- Chiều đo thực tế xã hội - văn hóa: Giải thích các hiện tượng xã hội, thể chế, thứ bậc giai cấp và tập tục văn hóa quy định cách diễn đạt.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của ngôn ngữ học ứng dụng:
- Phương pháp Phân tích diễn ngôn: Phân tích ngữ liệu trong sự gắn kết giữa nghĩa bề mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống (gồm ngữ cảnh vật lý và ngữ cảnh văn hóa - xã hội).
- Phương pháp Phân tích hội thoại (theo hướng Mỹ): Phân tích các cặp thoại, lượt lời (turn), bước thoại (move), hành vi ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp.
- Phương pháp phân tích cấu trúc - thời gian tự sự: Phân lập tuyến thời gian trần thuật và tuyến thời gian thực của sự kiện.
- Phương pháp Ký hiệu học xã hội: Giải mã các biểu thức ngôn ngữ đóng vai trò phản ánh tập tục, thiết chế xã hội.
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát được trích xuất từ hai văn bản nguồn:
- Truyện ngắn Chí Phèo, in trong tuyển tập do Hà Minh Đức giới thiệu (1976), trang 69–101.
- Tiểu thuyết Sống mòn, in trong tuyển tập tác phẩm Nam Cao (1976), trang 132–344.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Phương pháp nghiên cứu của Phân tích diễn ngôn và Dụng học
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận chuyên ngành của PTDN và DH làm công cụ phân tích cho các chương ứng dụng sau:
- Quá trình hình thành và phát triển của PTDN: Luận án trình bày sự chuyển đổi từ "ngữ pháp văn bản" hình thức (bắt đầu từ Zellig Harris năm 1952) sang nghiên cứu diễn ngôn như một đơn vị nghĩa từ năm 1979 với các tiêu chuẩn văn bản tính của De Beaugrande. Dẫn luận công trình của Gillian Brown và George Yule (1983) về các yếu tố cấu thành diễn ngôn: ngữ cảnh, đề tài, cấu tứ (staging), cấu trúc tin, quy chiếu và tính mạch lạc.
- Các đường hướng tiếp cận PTDN: Trình bày chi tiết 8 đường hướng tiếp cận PTDN, đặc biệt là lược đồ SPEAKING của Dell Hymes và mô hình PTDN tích hợp.
- Phương pháp luận Phân tích diễn ngôn phê bình (PTDNPB): Trình bày 6 điểm đặc thù của PTDNPB theo Thomas Huckin (1997) và mô hình ba chiều đo của Norman Fairclough (văn bản - thực tế diễn ngôn - thực tế xã hội-văn hóa). Luận án làm rõ việc truy tìm nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả thông qua phân tích cấu trúc ngôn ngữ.
- Phương pháp luận Dụng học: Giới thiệu quá trình tiếp nhận Dụng học tại Việt Nam từ Hoàng Phê đến Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân. Trình bày quan điểm của Bruce Fraser về 5 phối cảnh Dụng học và khái niệm "chiếc ô" của Jacob Mey. Phân tích cơ chế hoạt động của động từ ngôn hành, câu ngôn hành nguyên cấp/hàm ẩn, tiền giả định và chỉ thị tố qua các ví dụ trích từ tác phẩm của Nam Cao.
- Mối quan hệ tương hỗ giữa PTDN và DH: Khẳng định tính tích hợp không thể tách rời giữa hai bộ môn khi tiếp cận văn bản nghệ thuật: DH cung cấp công cụ phân tích hành vi và nghĩa vi mô trong hội thoại; PTDN cung cấp khung phân tích vĩ mô gắn với ngữ cảnh tình huống và cấu trúc xã hội.
Chương 2: Truyện Chí Phèo từ cách tiếp cận của Phân tích diễn ngôn và Dụng học
Chương 2 vận dụng khung phân tích vào truyện ngắn Chí Phèo:
- Bố cục và quan hệ thời gian trần thuật:
- Điểm bắt đầu của truyện không đi theo trật tự thời gian tuyến tính đời người mà mở đầu bằng tiếng chửi của Chí Phèo ("Hắn vừa đi vừa chửi..."). Đây là cấu trúc mơ hồ có chủ đích, đòi hỏi người đọc phải liên kết với các chỉ thị tố phía sau để xác định nhân vật.
- Phân tích chi tiết "bảy ngày đêm cuối cùng trong cuộc đời của Chí Phèo": từ cuộc gặp gỡ Thị Nở ở vườn chuối đêm trăng, chuỗi ngày thức tỉnh ý thức lương thiện, bị cự tuyệt, đến đỉnh điểm uống rượu vác dao đến nhà Bá Kiến đâm chết kẻ thù và tự sát.
- Khảo sát quan hệ thời gian tần số: Nam Cao kết hợp linh hoạt giữa trần thuật đơn (kể một lần sự việc diễn ra một lần), trần thuật lặp (kể nhiều lần sự việc diễn ra một lần) và trần thuật tổng quát (kể một lần những sự việc diễn ra lặp đi lặp lại như thói quen uống rượu, rạch mặt ăn vạ của Chí).
Tiến trình biến đổi quan hệ Bá Kiến - Chí Phèo
- Mạng lưới nhân vật và tầm quan trọng:
- Thiết lập sơ đồ mạng lưới nhân vật làng Vũ Đại xoay quanh trục Bá Kiến.
- Phân định hai giai đoạn tổ chức nhân vật: giai đoạn làm Lý trưởng (quan hệ với Chí Phèo thời trẻ, bà Ba, các tá điền) và giai đoạn làm Bá hộ (quan hệ với Lý Cường, Đội Tảo, Bát Tùng, Chí Phèo lưu manh).
- Đối chiếu đặc trưng các cặp nhân vật đối ứng: Bá Kiến - Đội Tảo (mâu thuẫn thế lực cường hào); Bá Kiến - Chí Phèo (bóc lột - tay sai - tiêu diệt); Chí Phèo - Thị Nở (sự thức tỉnh tính người).
- Phân tích lập luận:
- Khảo sát chiến thuật lập luận của Bá Kiến trong các lần đối thoại với Chí Phèo: dùng lời ngọt nhạt, phân cấp tôn ti, chuyển hướng xung đột (từ đòi tiền sang cho tiền, sai đi đòi nợ Đội Tảo), biến kẻ thù thành tay sai.
- Phân tích lập luận của bà Đội Tảo khi giải quyết các xung đột làng xã, thể hiện sự khôn ngoan của tầng lớp trên trước sự biến động của gia đình Bá Kiến.
- Phân tích cách dùng ngôn ngữ của Nam Cao:
- Hiện tượng tỉnh lược quan hệ từ tạo nên nhịp điệu dồn dập, sắc lạnh.
- Sắp xếp trật tự từ ngữ trong các chuỗi liệt kê hành động và tâm lý nhân vật.
- Cấu trúc câu linh hoạt, phối hợp câu ngắn đặc tả hành động với câu dài trần thuật nửa trực tiếp diễn tả dòng ý thức nội tâm.
- Ký hiệu học xã hội trong Chí Phèo:
- Nhận diện các ký hiệu văn hóa - xã hội được mã hóa qua ngôn từ: tệ mua quan bán chức, nạn hối lộ quan trên, thủ đoạn vu oan giá họa, thói ghen tuông của kẻ quyền thế, nạn tảo hôn, tục "quyền huynh thế phụ".
- Phân tích cách nhìn hiện thực và thái độ đồng cảm sâu sắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân bị tha hóa.
Chương 3: Tiểu thuyết Sống mòn từ cách tiếp cận của Phân tích diễn ngôn và Dụng học
Chương 3 khảo sát tiểu thuyết Sống mòn:
- Bố cục và cấu trúc thời gian nghệ thuật:
- Đối chiếu tuyến thời gian cuộc đời nhân vật Thứ (từ thời đi học, thất nghiệp ở quê, ra Hà Nội dạy học tư trường Đích, lấy vợ, đến khi trường đóng cửa vì chiến tranh phải về quê) với tuyến thời gian truyện kể.
- Xác định các mốc thời gian Thứ dạy học tại trường của Đích và điểm mở đầu/kết thúc truyện kể (mở đầu bằng cảnh Thứ thức dậy trong căn nhà trọ ngột ngạt và kết thúc bằng chuyến tàu đưa Thứ rời Hà Nội về quê trong tâm trạng bế tắc).
| Lớp nhân vật |
Thành phần đại diện |
Đặc điểm vị thế xã hội và tâm lý |
| Lớp 1: Trí thức giáo chức tiểu tư sản |
Thứ, San, Đích, Oanh |
Đại diện cho lớp trí thức nghèo thành thị, có học vấn nhưng bế tắc về lý tưởng, sống mòn trong lo toan cơm áo |
| Lớp 2: Thị dân tiểu chủ, làm thuê |
Mô, bác bếp, anh phu xe |
Tầng lớp lao động nghèo ngoại thành, mưu sinh chật vật, chịu sự chi phối của các tập tục sinh hoạt tự do |
| Lớp 3: Giới trung lưu, chủ tài sản |
Vợ chồng Đích, bà chủ nhà trọ |
Có tư hữu, thực dụng, coi giáo dục và quan hệ người như một hoạt động kinh doanh kiếm lời |
| Lớp 4: Gia đình, người thân ở quê |
Vợ Thứ (Liên), bố mẹ Thứ |
Đại diện cho lối sống nông thôn truyền thống, ràng buộc bởi tục lệ, gánh nặng kinh tế gia đình |
| Lớp 5: Xã hội quan lại, chức dịch |
Tri huyện, lính lệ, cai ngục |
Bộ máy cai trị thực dân phong kiến gián tiếp chi phối không gian sống của trí thức |
- Tính cách và diễn biến tâm lý nhân vật Thứ:
- Phân tích chí tiến thủ và lý tưởng cao đẹp ban đầu của Thứ (muốn cải tạo xã hội bằng giáo dục, sống có ích).
- Lòng vị tha, sự tự vấn lương tâm trong cách nhìn nhận con người và cuộc đời.
- Những biểu hiện tâm lý tiêu cực: sự nghi kỵ, hẹp hòi, đố kỵ vặt vãnh nảy sinh do hoàn cảnh sống nghèo túng, đơn điệu giam hãm.
- Phân tích lập luận trong Sống mòn:
- Phân tích các cuộc tranh luận về giáo dục và việc học giữa Thứ, San, Đích: mâu thuẫn giữa lý tưởng khai hóa tri thức và thực tế "cho con đi học là làm một việc buôn bán" kiếm lời.
- Khảo sát các cuộc đối thoại bàn luận về quan hệ nam nữ, tình yêu, hôn nhân và trinh bạch giữa Thứ và các đồng nghiệp.
- Phân tích cách dùng ngôn ngữ nghệ thuật:
- Phân tích nghệ thuật sử dụng lời gián tiếp tự do, lời nửa trực tiếp đan xen giữa giọng người kể chuyện và độc thoại nội tâm của nhân vật.
- Khảo sát hệ thống từ ngữ biểu cảm, các chỉ thị tố diễn tả sự chuyển biến tâm lý tinh vi.
- Ký hiệu học xã hội trong Sống mòn:
- Phản ánh tệ mua quan bán chức ở nông thôn và thành thị qua lời kể của các nhân vật.
- Tệ mê tín dị đoan, tệ ghen tuông.
- Tục "vợ không giá thú" (như trường hợp vợ anh phu xe bỏ chồng cũ theo người mới mà không cần pháp luật can thiệp, phản ánh thực tế xã hội thời bấy giờ chưa có chế định hôn nhân chặt chẽ).
- Quan niệm thực dụng của xã hội tiểu tư sản: biến giáo dục thành món hàng kinh tế.
- Làm rõ cách nhìn của Nam Cao về bi kịch "chết mòn" của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước 1945.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và phương pháp luận
- Luận án khẳng định tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng kết hợp Phân tích diễn ngôn và Dụng học vào việc nghiên cứu tác phẩm văn xuôi tự sự tiếng Việt.
- Thiết lập một quy trình phân tích tích hợp gồm: miêu tả ngôn từ bề mặt văn bản $\rightarrow$ phân tích thực tế diễn ngôn gắn với ngữ cảnh trần thuật $\rightarrow$ giải thích các hiện tượng ký hiệu học xã hội và quan điểm tác giả.
- Cung cấp các công cụ thao tác khách quan (phân tích lượt lời, hành vi ngôn ngữ, tiền giả định, quan hệ thời gian - tần số) để kiểm chứng khoa học cho các nhận định của phê bình văn học truyền thống vốn thiên về trực cảm.
Đóng góp về mặt thực tiễn phân tích tác phẩm
- Về cấu trúc tác phẩm: Làm rõ cấu trúc bố cục phi tuyến tính, trật tự thời gian nghệ thuật và mạng lưới nhân vật trong hai thể loại truyện ngắn (Chí Phèo) và tiểu thuyết (Sống mòn).
- Về nghệ thuật ngôn từ: Phát hiện các quy luật tổ chức cú pháp đặc thù của Nam Cao như: kỹ thuật trần thuật nửa trực tiếp, lược bỏ liên từ nối, đảo trật tự chuỗi liệt kê, sử dụng câu ngôn hành hàm ẩn và các chiến lược lập luận sắc sảo trong hội thoại.
- Về giá trị phản ánh hiện thực: Hệ thống hóa các chỉ dấu ký hiệu học xã hội (tệ nạn phong kiến, tập tục hôn nhân không giá thú, thực trạng giáo dục kinh doanh) và làm rõ nhân sinh quan nhân đạo của Nam Cao trước năm 1945.
Kiến nghị và đề xuất
- Mở rộng ứng dụng khung phân tích PTDN và DH sang nghiên cứu các tác giả văn học hiện thực khác (như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng).
- Đưa các phát hiện về cấu trúc diễn ngôn và hành vi hội thoại vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tác phẩm Nam Cao trong nhà trường phổ thông và đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Do sự giới hạn về phạm vi ngữ liệu (chỉ tập trung vào 02 tác phẩm đại diện), luận án chưa bao quát toàn bộ di sản truyện ngắn và tiểu thuyết của Nam Cao.
- Luận án xác định dừng lại ở việc chỉ ra cách nhìn, quan điểm nghệ thuật cụ thể của tác giả qua tác phẩm, chưa nâng lên thành việc khái quát toàn bộ hệ thống ý thức hệ xã hội của thời đại.
- Việc khai thác các lý thuyết Dụng học và PTDN được thực hiện có chọn lọc theo hướng nổi trội, chưa vận dụng đồng đều tất cả các mô-đun lý thuyết vào cả hai tác phẩm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát toàn bộ các sáng tác của Nam Cao ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945 để đánh giá sự biến chuyển diễn ngôn của tác giả.
- Ứng dụng PTDN và DH để phân tích đối chiếu ngôn ngữ văn chương hiện thực phê phán với các khuynh hướng văn học khác cùng thời kỳ (như phong trào Thơ mới, văn xuôi Tự lực văn đoàn).
- Vận dụng mô hình phân tích diễn ngôn phê bình để nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ khác ngoài văn chương (như diễn ngôn báo chí, diễn ngôn chính trị - xã hội).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng: Tham khảo khung phương pháp luận tích hợp PTDN - DH, cách thức xử lý ngữ liệu tự sự và kỹ thuật phân tích hội thoại.
- Nhà nghiên cứu văn học và phê bình văn học: Tiếp cận hướng Phê bình ngôn ngữ học để bổ sung căn cứ ngôn từ khách quan cho các nhận định lý luận văn học về tác gia Nam Cao.
- Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Vận dụng các phát hiện về cấu trúc thời gian "bảy ngày đêm cuối cùng của Chí Phèo", mạng lưới quan hệ nhân vật làng Vũ Đại, và tính cách nhân vật Thứ để nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại lựa chọn hai tác phẩm Chí Phèo và Sống mòn làm đối tượng khảo sát?
Tác giả lựa chọn hai tác phẩm này vì chúng đại diện cho hai thể loại tự sự khác biệt (truyện ngắn và tiểu thuyết), phản ánh hai đề tài tiêu biểu nhất của Nam Cao trước năm 1945 (nông dân bần cùng hóa và trí thức tiểu tư sản bế tắc), diễn ra trong hai không gian nghệ thuật đặc trưng (làng quê truyền thống và khu vực nửa tỉnh nửa quê). Sự khác biệt này giúp kiểm chứng tính khả thi của phương pháp PTDN và DH trên các cấu trúc văn bản có quy mô và tính chất nghệ thuật khác nhau.
2. Sự khác biệt căn bản giữa Phân tích diễn ngôn và Ngữ pháp văn bản thời kỳ đầu là gì?
Ngữ pháp văn bản (giai đoạn 1952 đến trước 1979) cố gắng sao chép công cụ và quy tắc cú pháp của câu đơn vào nghiên cứu cấu trúc văn bản lớn hơn câu. Ngược lại, Phân tích diễn ngôn (từ năm 1979 trở đi) xác định diễn ngôn là đơn vị thuộc về nghĩa, không thuộc về bậc cấu trúc hình thức của hệ thống ngôn ngữ, do đó phải nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng gắn liền với ngữ cảnh tình huống và giao tiếp xã hội.
3. Phương pháp "ba chiều đo" của Norman Fairclough được luận án ứng dụng như thế nào?
Luận án vận dụng ba chiều đo gồm: (1) Chiều đo văn bản (miêu tả từ ngữ, kiểu câu, quan hệ từ trên bề mặt); (2) Chiều đo thực tế diễn ngôn (phân tích quá trình tạo lập phát ngôn, giải mã ý nghĩa trong ngữ cảnh tình huống cụ thể); (3) Chiều đo thực tế xã hội - văn hóa (giải thích nguyên nhân xã hội, thiết chế, tập tục văn hóa như mua quan bán chức, tục vợ không giá thú quy định cách diễn đạt của nhân vật và tác giả).
4. Thuật ngữ "lượt lời" (turn) được luận án ưu tiên sử dụng hơn thuật ngữ "tham thoại" (intervention) vì lý do gì?
Luận án ưu tiên dùng thuật ngữ "lượt lời" (của hướng nghiên cứu Anh - Mỹ) thay vì "tham thoại" (của nhánh Thụy Sĩ - Pháp) vì "lượt lời" lấy sự luân phiên chuyển giao lần nói giữa hai người tham gia giao tiếp ($SP_1$ và $SP_2$) làm cơ sở phân định, mang tính công nghệ cao hơn, rõ ràng và tiện dụng hơn cho thao tác phân tích ngữ liệu hội thoại cụ thể.
5. Khái niệm "ký hiệu học xã hội" được minh chứng qua hiện tượng cụ thể nào trong tiểu thuyết Sống mòn?
Hiện tượng điển hình là câu chuyện người phụ nữ bỏ anh bếp đi làm "vợ theo" anh phu xe mà không cần hôn thú hợp pháp. Qua câu trả lời của nhân vật Mô ("đánh bỏ mẹ nó đi chứ bênh gì! Cho nó chừa cái thói chim vợ người ta!"), luận án chỉ ra thực tế xã hội thời kỳ đó chưa có sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ về hôn nhân, trong khi văn hóa tập tục lại tự đặt ra các "chế tài" xử phạt người đàn ông mới, tạo thành một tín hiệu ký hiệu học xã hội đặc thù của thời đại.
Kết luận
Luận án "Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học" của tác giả Vũ Văn Lăng là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng. Bằng việc kết hợp phương pháp luận của Phân tích diễn ngôn, Phân tích diễn ngôn phê bình và Dụng học, tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc thời gian trần thuật, mạng lưới nhân vật, nghệ thuật lập luận và các dấu hiệu ký hiệu học xã hội trong hai tác phẩm Chí Phèo và Sống mòn. Công trình đã chứng minh tính khả thi của việc sử dụng các chứng cứ ngôn ngữ học khách quan để làm sâu sắc thêm các giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác gia Nam Cao, đóng góp một tư liệu học thuật giá trị cho nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Việt Nam.