Chương 1: Vấn đề giới và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. - Chương 2: Hệ thống chủ đề về giới trong Truyền kỳ mạn lục. - Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện vấn đề giới trong Truyền kỳ mạn lục. e 10 Chƣơng 1: VẤN ĐỀ GIỚI VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 1.
VẤN ĐỀ GIỚI QUA CÁC DIỄN NGÔN Trước hết cần điểm qua đôi nét về khái niệm diễn ngôn. Theo từ điển New Webster`s Dictionary thì diễn ngôn được định nghĩa gồm hai nghĩa: một là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận). Cả hai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực. Còn giới là một kiến tạo xã hội, cho nên diễn ngôn về giới là tiếng nói của kẻ mạnh đè lấp lên kẻ yếu hoặc biến kẻ yếu thành kẻ ăn theo nói leo hoặc không có tiếng nói.
Trong lịch sử, diễn ngôn về giới nằm trong tư tưởng của huyền thoại và tôn giáo trước khi xuất hiện tiếng nói khác: tiếng nói đối kháng. Từ cái nhìn bất bình đẳng giới trong huyền thoại và các học thuyết tôn giáo, chính trị, đạo đức … Trong huyền thoại, tôn giáo, diễn ngôn về giới có từ huyền thoại khai thiên lập địa khi mượn chuyện thánh thần để xác lập trật tự đầu tiên của loài người. Lúc bấy giờ, vai trò của nữ thần và nam thần tương đương nhau, chỉ khác là ở chức năng tự nhiên. Trong thần thoại: Hy Lạp có mẹ Gaia, Ấn Độ có Lajja Gauri - thần lực nữ tính (Shakti), người Hán có Nữ Oa, còn Việt Nam có mẹ Âu Cơ, … Ở họ đều có điểm chung là mang chức năng sinh sản và nuôi dạy con cái, thậm chí mang cả chức năng khai thiên lập địa, lao động và phân phối của cải như nam thần.
Tuy nhiên, huyền thoại về nữ thần và nam thần không ngang bằng nhau. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của phụ nữ mờ nhạt hẳn, trong khi quyền lực của đàn ông thì nổi bật lên thành kẻ thống e 11 trị, dẫn đến sự bất bình đẳng dai dẳng suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt khi các tôn giáo lớn ra đời thì vị thế của nam nữ càng bị phân hóa rõ rệt. “Nếu huyền thoại dẫn dắt con người đến vườn Eden, xác lập một niềm tin về Đức Chúa Trời toàn thiện toàn mỹ sinh ra Adam giống như ngài, rồi lấy sườn Adam tạo ra Eva đầy khiếm khuyết. Sự mặc khải này xác lập ngay một trật tự đầu tiên cho loài người: đàn ông là hiện hữu của Thượng Đế, còn đàn bà là cái khác (The Other), cái phụ thuộc của đàn ông.
Cựu ước kế tiếp, rằng việc vi phạm luật trời và rơi vào tội lỗi bắt đầu từ đàn bà. Eva nghe lời kẻ xấu là con rắn, hiện thân của quỷ Satan đã dụ Adam ăn Trái Cấm, trái sinh ra từ cây Trí tuệ đồng thời là cây Tính dục. Đây là mặc khải thứ hai về thân phận người phụ nữ: Ngài phán cùng người phụ nữ rằng: ta sẽ thêm điều khổ cực bội phần trong cơn thai nghén: người sẽ chịu đau đớn mỗi khi sinh con; sự dục vọng người phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.115] Chính niềm tin vào mặc khải này đã kéo theo hàng loạt các kiến tạo về vai trò của người đàn ông và thân phận phụ nữ [13, tr. Sau Adam là tổ phụ Abraham, và sau Abraham lại là Chúa con Jesus Christ.
Ngay trong huyền thoại đa thần trước tôn giáo độc thần, người đứng đầu các vị thần phải là đàn ông. Trong huyền thoại Hy Lạp, các nữ thần hoàn toàn bị đưa xuống sau sự thống trị của thần Zeus. Và những đứa con của thần linh trong cuộc hôn phối với người trần như Heracles, Achilles. được ngợi ca trong các thiên sử thi đều mang khuynh hướng ngợi ca vai trò của người đàn ông.
Hay trong huyền thoại sơ khai của Ấn Độ, vào cái giao điểm đạo Hindu lập ra tam thần tối cao (Trimurti), gồm Barahma, Vishnu, Shiva như là sự chỉnh biên từ những câu chuyện dân gian phổ biến vùng sông Ấn, sông Hằng, vết tích một cuộc đảo chính từ thần lực nữ tính sang phụ quyền vẫn còn nguyên vẹn[12, tr.11] Trong huyền thoại của người Hán, “Huyền thoại Bàn Cố tồn tại gần e 12 như song song với với huyền thoại Nữ Oa, trong trường hợp Nữ Oa là huyền thoại độc lập trước khi gắn kết với Phục Hy thành cặp nhị nguyên. Bàn Cố là vị thần nguyên thủy nhất, khi chết đi máu, thịt, xương biến thành núi sông và vạn vật, những loài kí sinh trùng trong cơ thể ngài hóa thành con người. Huyền thoại Nữ Oa nhào nặn đất sét để nắn nên con người - Nữ Oa sánh tương đương với chúa trời trong Cựu ước. Điều đó chứng tỏ vai trò phụ nữ từng được đề cao trước khi diễn ra cuộc “đảo chính” mang tên phụ quyền.
Còn trong tâm thức của người Việt, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng và từ trăm trứng ấy nở ra trăm con trai – đây là một kiến tạo phụ quyền nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò sinh nở và duy trì sự sống của Âu Cơ - thiên chức của nữ giới. Chính Âu Cơ mang năm mươi con trai lên núi mới dựng nên cơ nghiệp các vua Hùng, còn Lạc Long Quân mang năm mươi đứa con trai về biển thì không được nhắc đến. Việc Âu Cơ hoàn thành chức năng sinh nở, bảo tồn sự sống và nhường phần xây dựng triều đại Hùng Vương cho năm mươi đứa con trai cho thấy: Người phụ nữ là sức mạnh của hiện thân tự nhiên, trong khi quyền lực đàn ông chỉ là một thứ được kiến tạo để hình thành nên các quan hệ xã hội. Đất nước Ấn Độ, nơi mà đạo Hindu thống trị và duy trì lâu dài nhất, thì bộ tam thần đứng đầu các vị thần: Brahma, Vishnu và Shiva lại gắn với cặp Linga – Yoni.
Cả ba đều được xem như là nam thần, nhưng có gì đó bất ổn khi đặt trong quan hệ với cặp biểu trưng tính dục nam nữ mà người Ấn Độ tôn thờ. Brahma, thần sáng tạo và sinh sôi, Vishnu, thần bảo hộ thuộc Yoni; trong khi Shiva, thần hủy diệt lại thuộc Linga. Quan hệ tương ứng ấy cho thấy nền tảng của sự sáng tạo và bảo hộ sinh sôi thuộc về nữ tính, trong khi hủy diệt và cõi chết lại thuộc về nam tính. Lạm dụng bạo lực và tính dục dẫn đến chiến tranh chỉ có thể là đàn ông.
Nhưng quá trình kiến tạo văn hóa phụ quyền, mọi e 13 tội lỗi trút hết đàn bà. Còn Thánh Paul, người dựa vào Cựu Ước và Tân Ước, đã thiết lập nên nguyên tắc: không phải người nam được sáng tạo ra cho người nữ mà trái lại, người nữ được sáng tạo ra cho người nam. Các quan điểm này đã che đậy hoàn toàn vai trò của người phụ nữ, điều này cũng thể hiện rõ trong Nho giáo khi luận Kinh Dịch. Nho giáo xem đàn bà thuộc Âm tính so với đàn ông thuộc Dương tính, vì thế cái xấu dành cho đàn bà.
Luận ngữ viết: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (Chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là loại khó dạy, gần nó thì nó vô phép, xa nó thì nó oán hận). Tuy nhiên, con giun xéo mãi cũng quằn. Lịch sử đã chứng kiến tiếng nói phản kháng, đấu tranh trong phong trào đòi nữ quyền của nữ giới. Khởi đầu cho ngọn lửa đấu tranh ấy là vào tháng 10/1789, một nhóm phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại hội để đòi quyền bình đẳng nam nữ.
Đây chính là sự khởi đầu cho một phong trào đấu tranh chính trị trước khi chuyển thành những vấn đề văn hoá lớn của cả thời đại văn minh. … đến tiếng nói bình đẳng giới trong nữ quyền luận Mặc cho tạo hóa ban tặng cho nữ giới nhiều thiên chức mà đàn ông không có được và có thể đảm nhiệm những vai trò như nam giới nhưng những quan niệm hà khắc về người phụ nữ vẫn kéo dài ròng rã suốt nhiều thiên niên kỉ. Những quan niệm: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Nữ nhi thường tình”, “Nữ nhi ngoại tộc”, … đã bám rễ sâu trong tiềm thức, phủ rộng trên phạm vi không chỉ một dân tộc, một quốc gia, một vùng miền và trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, là công cụ áp chế họ. Và như một lẽ tất yếu: có áp bức thì tất yếu sẽ có đấu tranh, sự phản kháng ấy đã giáng một đòn mạnh mẽ, tấn công một cách toàn diện vào tình trạng bất bình đẳng của xã hội.
Nữ quyền luận (Feminism) ra đời trong những thập niên 1960, 1970, gắn e 14 liền với phong trào giải phóng phụ nữ. Đó là một nỗ lực lý thuyết hóa vấn đề nam - nữ trên tinh thần giải cấu trúc. Nó tự tạo ra chiến lược diễn ngôn chống lại diễn ngôn nam quyền hay văn hóa duy dương vật (phallocentric culture). Chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới đã trải qua ba giai đoạn đấu tranh.
Giai đoạn thứ nhất khởi đầu từ nước Anh, sau đó lan ra các quốc gia phương Tây từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thể kỉ XX. Đại diện của giai đoạn này chính là Mari Wollstonerast được ví như mẹ đẻ của chủ nghĩa nữ quyền với cuốn Bản chứng minh các quyền của phụ nữ (A Vindication of de Rights of Women, 1792), bà cho rằng: phụ nữ không phải thấp kém hơn đàn ông, chẳng qua là họ thiếu đi sự giáo dục. Theo bà, cả đàn ông và phụ nữ phải được đối xử với nhau bình đẳng và mường tượng về một trật tự xã hội dựa trên nguyên lý đó. Tiếp theo là Viginia Woolf - nhà nữ quyền học đầu tiên của phương Tây - sáng lập ra bộ môn phê bình văn học cho nữ giới với tác phẩm Một căn phòng riêng (A Rom of One is Own, 1929) được coi như “sách vỡ lòng” của nữ quyền.
Giai đoạn thứ hai, chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu rầm rộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau đại chiến thế giới thứ hai và phát triển lên cao trào trong thập niên 60 của thể kỉ XX. Đại diện tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Simone de Beauvoir (1908 - 1986), nữ nhà văn Pháp, trong cuốn Giới tính thứ hai (The Second Sex).