Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN CƯ TRINH VÀ TÁC PHẨM SÃI VÃI Ở chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề liên quan đến bối cảnh chính trị, văn hóa và xã hội Đàng Trong thời của Nguyễn Cư Trinh và Sãi Vãi. SÃI VÃI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TƯ TƯỞNG, CHỦ ĐỀ VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT Nội dung cơ bản của chương này là khảo sát các giá trị về nội dung trong tác phẩm Sãi Vãi. Những vấn đề liên quan đến quan điểm sáng tác, tư tưởng chủ đề, chủ đề và nhân vật trong mối tương quan so sánh với các tác phẩm đương thời.
SÃI VÃI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT Trọng tâm của chương này, tác giả đề án tập khái quát một số đặc điểm cơ bản liên quan đến những vấn đề về thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu nghệ thuật trong Sãi Vãi… Từ những vấn đề nghiên cứu được, chúng tôi sẽ có sự so sánh với một số tác phẩm đương thời để thấy được sự khu biệt, độc đáo của Sãi Vãi trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN CƯ TRINH VÀ TÁC PHẨM SÃI VÃI 1. Cơ sở văn hóa xã hội và văn học thế kỉ XVIII 1. Bối cảnh văn hóa, xã hội Đàng Trong thế kỉ XVIII Thế kỉ XVIII là thời đại mà Nguyễn Cư Trinh được sinh trưởng và thực hiện nhiệm vụ kinh bang tế thế với tư cách Nho sĩ.
Ở thời điểm này, cuộc chiến phân tranh giữa hai thế lực phong kiến Trịnh và Nguyễn đã tạm thời kết thức. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong ra sức phát triển thế lực, xây dựng vương phủ - đô thành Phú Xuân nguy nga như một kinh đô đích thực của vương quốc riêng biệt. Bên cạnh chủ trương ấy, các chúa Nguyễn cũng tiến hành công tác mở rộng lãnh thổ trên đất liền, khu vực biển đảo và mở rộng lãnh thổ đến cực Nam của đất nước. Có thể nói, sau cuộc chiến Trịnh – Nguyễn kết thúc (năm 1672), chúa Nguyễn dành nhiều tâm lực cho việc phát triển, ổn định kinh tế, mở cõi và trị an.
Tình hình khu vực Đàng ngoài cũng không mấy sáng sủa, chúa Trịnh lộng quyền, vua Lê chỉ là hư vị, chính sự bị đình đốn, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra. Song, không vì thế mà chúa Trịnh từ bỏ âm mưu, tham vọng đánh chiếm đất Đàng Trong của chúa Nguyễn. Khu vực phía Nam, vương quốc Chăm pa đang trong giai đoạn suy kiệt những cũng nỗ lực tạo nên những bức phá cuối cùng trong việc đối đầu với chúa Nguyễn. Tuy nhiên, trước những áp lực to lớn của quân đội Đàng Trong, những cũng đã kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình vào năm 1693 sau hơn 15 thế kỉ tồn tại.
Ở khu vực Nam bộ, vương quốc Chân Lạp cũng suy yếu do sự xung đột dai dẳng trong nội bộ và sự can thiệp của Xiêm La. Vì thế, họ bắt đầu thần phục và dựa vào sự bảo hộ của chúa Nguyễn để điều hành, tổ chức và quản lý đất nước. Bản thân Nguyễn Cư Trinh lúc làm Tuần phủ Quảng Ngãi cũng đã nhận thấy xu thế phát triển về phương Nam là một con đường tất yếu, trong Sãi Vãi, ông đã viết: Tây phương không đường tới, Bắc lộ khó nẻo qua. Đường Nam phương thấy đó chẳng xa, Thì những sợ nhiều quân Đá Vách.
11 Một thực tế cho thấy, trung tâm chính trị Phú Xuân lại xa rời kinh đô Thăng Long, nhất là kể từ sau sự kiện năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, kiến lập đô thành, cải tổ và nâng cấp bộ máy hành chính, đúc ấn quốc vương, thiết kế triều nghi, trang phục, lễ nhạc. Chủ trương này của chúa Nguyễn đã tạo nên thế và lực mới cho phương Nam, kiến tạo nó trở thành một không gian chính trị mới, đối lập và khai phóng hơn chính quyền Đàng Ngoài. Các chúa Nguyễn đã linh động và sáng suốt hơn trong việc dùng người, cắt đặt các nhiệm vụ phù hợp với năng lực của từng cá nhân. Điều này tạo nên tính liên hoàn trong hiệu quả công việc, cụ thể nhất là dải đất miền Nam rộng lớn đã thuộc về chúa Nguyễn thông qua bàn tay của các kiến trúc sư Lương Văn Chánh, Bùi Tá Hán, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Cảnh và kể cả Nguyễn Cư Trinh.
Chúa Nguyễn đã sáng suốt trong việc dùng người không phân biệt quê quán, kể cả không loại trừ người Minh Hương nhưng có dụng tâm đóng góp cho đất Việt. Tương tự với quyết sách đó là chủ trương Nam tiến và tạo thế ảnh hưởng về đại chính trị nhằm xây dựng quốc gia hùng mạnh. Trong chiến lược đó, không thể không quan tâm đến khu vực Nam Bộ. Nhà nghiên cứu Đỗ Bang trong “Danh nhân Nguyễn Cư Trinh (1716 – 1767) – Tầm vóc thời đại” đã nhận định như sau: Thịnh đô Phú Xuân phát triển và thịnh vượng phải bắt đầu từ nền kinh tế và sự hẫu thuẫn chính trị ở miền Nam.
Trong bối cảnh thịnh vượng của Đàng Trong, chúng ta nhận thấy hai nhân vật tiêu biểu của triều định ra đi từ vùng Thuận – Quảng, xuất hiện đúng lúc với tài năng trội vượt đã tạo nên nghiệp lớn ở miền Nam là Nguyễn Hữu Cảnh/ Kính (1650 – 1700) xây dựng chính quyền ở miền Đông Nam bộ và Nguyễn Cư Trinh (1716 – 1767), xác lập và thực thi chủ quyền ở miền Tây Nam bộ [5, tr. Thế kỉ XVIII là thời kì chuyển mình quan trọng của Đàng Trong. Đây là giai đoạn hoàn thiện những bước cần thiết cho một sự thống nhất lâu dài mà các thế hệ về sau đã tiếp nối. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Cư Trinh đã xuất hiện, đã kiến tạo nên những chính tích to lớn dựa vào các điều kiện thuận lợi và thế lực đang lên của các chúa Nguyễn.
Những vấn đề lớn của thời đại này đã được Nguyễn Cư Trinh quan tâm, phân tích qua lăng kính của một nhà Nho chính 12 hiệu, một trí thức dấn thân và một Nho tướng mưu lược. Tất cả những điều ấy đã được tả qua phản ánh, ghi nhận và thể hiện trong tác phẩm Sãi Vãi. Do đó, Sãi Vãi cũng có thể được xem như là bản tổng kết thời đại lúc bấy giờ, chứ không đơn thuần là một câu chuyện tôn giáo, tranh luận đạo lý hay một bản tổng phổ về chiến lược chinh phạt mọi Đá Vách như nhiều nghiên cứu đã công bố. Tình hình văn học Đàng Trong thế kỉ XVIII Trong lịch sử hình thành và phát triển, mặc dù được đình hình tương đối muộn hơn so với văn học Đàng Ngoài, văn học Đàng Trong dường như luôn nỗ lực vươn lên với những giới hạn về giá trị, số lượng tác gia, tác phẩm.
Nhìn lại tiến trình vận động lịch sử của văn học cổ điển Việt Nam, từ khi định hình, văn học Đàng Trong gần như luôn có xu hướng đi đầu cho những thể nghiệm mới mẻ của các thể loại văn học Hán Nôm, nhất là những thể loại Nôm dài hơi như Truyện thơ Nôm, vãn Nôm, tuồng Nôm: từ truyện Nôm bác học, vãn, tuồng… và ít nhiều có sự hồi quy, ảnh hưởng ngược trở lại miền Bắc. Có thể nói, tiến trình lịch sử và tính đặc biệt của lịch sử hình thành phát triển văn hóa, xã hội của Đàng Trong đã kiến tạo nên những đặc điểm có tính tiên phong của trên rất nhiều góc độ, góp phần hình thành nên một vùng văn học mang nhiều biệt sắc so với các vùng văn học khác trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam. Văn học Đàng Trong có một cơ cấu lực lượng sáng tác khá đa dạng nhưng nhìn chung, nhà nho, đặc biệt là nhà nho hành đạo, vẫn luôn là gương mặt văn nhân - trí thức tiêu biểu, đóng vai trò chủ đạo chi phối đến diện mạo văn học. Chính việc có cùng xuất thân Nho học như vậy sẽ quy định những đặc tính chung cho văn học hai Đàng ở một số phương diện.
Tuy nhiên, ở thế kỷ XVIII, nếu Đàng Ngoài đã có sự hiện diện của cả ba loại hình tác giả nhà nho là nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử thì Đàng Trong, với một nền học vấn “trẻ” chưa đủ thịnh đạt, đã không thể xuất hiện loại hình nhà nho tài tử - đội ngũ sẽ “phá vỡ” những khuôn khổ truyền thống, hướng văn chương vào hạnh phúc cá nhân và những tiếng nói tình cảm riêng tư mãnh liệt - điều làm nên sức mạnh của văn học Đàng Ngoài và văn học dân tộc giai đoạn thế kỷ XVIII, XIX. Với cơ cấu lưc lượng tác giả khá mạnh mẽ và đa dạng, văn học Đàng Trong cũng có sự tương đồng chung với văn học cổ điển thời bấy giờ ở một số chủ đề - 13 đề tài tiêu biểu như ngợi ca thiên nhiên, phản ánh một số phương diện hiện thực của đất nước, nhưng trong những hoàn cảnh sáng tác khác nhau nên mức độ ưu tiên, cách thể hiện đối với các hệ đề tài, các hình tượng trung tâm cũng khác nhau. Chẳng hạn, tuy cùng là đề vịnh thiên nhiên nhưng thiên nhiên Đàng Trong tràn trề sức sống - sức trẻ của vùng đất mới, phơi phới niềm tự hào của người cầm bút “lạc quan phụng sự”, “tin tưởng phụng sự”. Điều này có thể kiểm chứng qua các sáng tác của Đào Duy Từ và một số tác gia khác.
Từ phương diện thể loại, có thể nhận thấy sự tương đồng của văn chương Đàng Trong cũng vận động phát triển một số thể loại truyền thống của văn học dân tộc như thơ Đường luật, phú, văn tế, ký, tiểu thuyết chương hồi, truyện Nôm, dù rằng trong bản thân mỗi thể loại ấy, So với Đàng Ngoài, văn học Đàng Trong lại đi theo những “ngã rẽ” khác. Thơ Đường luật tuy là thể loại lớn của văn học trung đại Việt Nam nhưng so với Đàng Ngoài, thơ Đường luật Đàng Trong tỏ ra có phần “khiêm tốn” hơn, xét về cả số lượng và vai trò của nó trong bức tranh thể loại vùng. Tình trạng đó cũng không phải là ngoại lệ đối với phú, văn tế. Do bối cảnh văn hóa và sở trường sáng tác mà văn học Đàng Trong hoàn toàn thiếu vắng thể loại truyền kỳ, ngâm khúc, hát nói nhưng lại “đỡ đầu” cho những thể loại đặc thù phương Nam như vãn, vè, tuồng, là những thể loại gần với dân gian, được sáng tác ra không phải để đọc thầm như ở Đàng Ngoài mà là để nói và trình diễn.