mở đầu cho một cuộc nói chuyện song phương) cũng như những lời nói, thái độ, cử chỉ cho thấy cuộc thoại kết thúc. Tuy nhiên, trong truyện ngắn, các cuộc ĐTNT hoàn toàn có thể được xác định nhờ vào việc xem xét định hướng tác động của lời nói nhân vật đến người khác. Trước một sự tình, một hiện tượng, nhân vật đưa ra lời nói của mình (không kể là nói thầm hay nói thành tiếng) mà lời nói đó không hướng đến người tiếp nhận, không tạo ra sự phản ứng, hồi đáp từ phía người tiếp nhận thì đó là một cuộc ĐTNT. Sự xác định 23 này, do vậy, luôn phải dựa vào những lời văn miêu tả, tường thuật của tác giả hoặc người dẫn chuyện ở thời điểm trước và sau khi cuộc ĐTNT diễn ra.
Lượt lời Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk; tour de parole) [15, tr. Ví dụ: - Con gái tôi đâu? - Sao chị biết nó là con gái? - Lúc lôi ra khỏi bụng tôi, tôi nghe loáng thoáng nó là con gái. - Cháu đang ở dưới phòng trẻ sơ sinh [XV, tr. Cuộc đối thoại trên gồm có bốn lượt lời.
Nhìn chung, khi đối thoại, các nhân vật giao tiếp thường sử dụng một số hoặc nhiều lượt lời để triển khai nội dung cuộc thoại. Ngược lại, khi ĐTNT, nhân vật thường chỉ đưa ra một lượt lời. Đây là dấu hiệu hình thức phản ánh định hướng giao tiếp của ĐTNT: tự trò chuyện với bản thân, không hướng đến người nghe. Tuy nhiên, khi được tổ chức như một cuộc đối thoại nội tâm ngầm ẩn thì cuộc độc thoại sẽ bao gồm nhiều lượt lời.
Có hai cách thức để tạo nên các lượt lời trong một cuộc độc thoại. Cách thứ nhất là chủ thể độc thoại lần lượt, luân phiên vào vai người nói và người nghe để trao đổi. Cuộc ĐTNT của người vợ trong truyện ngắn Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao rất tiêu biểu cho cách thức này: “Sao lại có sự long trọng ấy? (…) À, thôi phải… có lẽ hôm nay là giỗ của ông nào, bà nào đây, (…) Hăm nhăm tháng chín…không, mà không phải… Giỗ chạp gì hôm nay?” [I, tr. Cách thứ hai là chủ thể độc thoại tự phân thân thành hai con người hoàn toàn khác nhau, sử dụng những cặp đại từ nhân xưng tương ứng để đối đáp: “… Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!” “Không.” “Tôi có phải cút khỏi đây không?” “Không.
Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!” [III, tr. Mỗi lời trao hoặc lời đáp trong những cuộc đối thoại nội tâm như vậy đều được chúng tôi xem xét với tư cách như một lượt lời ĐTNT thông thường. 24 Khái niệm về cuộc thoại và lượt lời của lý thuyết hội thoại là cơ sở quan trọng để chúng tôi có được sự nhận diện chính xác đơn vị tính cho đối tượng nghiên cứu: một lượt lời ĐTNT được gọi là một lời ĐTNT và một cuộc độc thoại có thể có nhiều lời ĐTNT (như ở hai ví dụ nêu trên).
Ngữ cảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe 1. Ngữ cảnh giao tiếp Khái niệm ngữ cảnh giao tiếp có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn” [15, tr. Theo cách hiểu này, ngữ cảnh sẽ bao gồm những nhân tố chi phối đến diễn ngôn trong cuộc giao tiếp cả về hình thức và nội dung.
Do đó, ngữ cảnh sẽ là một tổng thể nhiều hợp phần khác nhau về nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn, tức là tất cả những yếu tố như vai nói, vai nghe, không gian, thời gian, mối quan hệ và hiểu biết hiện thực của vai nói, vai nghe… Đây là cách hiểu khá rộng về ngữ cảnh. Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp chỉ ra sự phân biệt giữa ngữ cảnh và hoàn cảnh nói năng. “Ngữ cảnh là những từ bao quanh hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa. Hoàn cảnh nói năng là cái tình huống, cái bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai, vì sao nói [30, tr.
Khái niệm ngữ cảnh ở đây được hiểu theo một phạm vi rất hẹp, chỉ là những đơn vị từ ngữ đi kèm, bao quanh một từ để cho người ta có thể hiểu được chính xác ý nghĩa cụ thể của từ đó. Khi nói về các yếu tố và các chức năng trong mô hình giao tiếp của Jakobson, tác giả Diệp Quang Ban giải thích về yếu tố ngữ cảnh như sau: “Ngữ cảnh mà lời nói đề cập là vật, việc, hiện tượng, không gian, thời gian được phản ánh trong lời nói, cho nên ngữ cảnh có tác dụng giải thích nội dung của thông điệp” [5, tr. Cách giải thích này về ngữ cảnh có nhiều điểm tương đồng với khái niệm hoàn cảnh nói năng mà Nguyễn Thiện Giáp đã nói đến ở trên. Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng, ngữ cảnh gồm 2 phần: a.
Ngữ cảnh chính là thời gian, không gian, cảnh huống bên ngoài cho phép một câu nói trở thành 25 hiện thực, nói được hay không nói được đồng thời giúp ta xác định tính đơn nghĩa của phát ngôn [62, tr. ngữ cảnh chính là ngôn cảnh, tức là điều kiện trước và sau phát ngôn để cho phép hiểu đúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể [62, tr. Những khái niệm của những tác giả đi trước được chúng tôi vận dụng để đi đến một cách hiểu về ngữ cảnh của lời ĐTNT: đó là những điều kiện về không gian, thời gian, sự việc, hiện tượng trong hiện thực và những điều kiện về tâm lý, hiểu biết của chủ thể độc thoại cho phép một lời ĐTNT có thể xuất hiện hợp lý và ý nghĩa của nó được hiểu một cách đúng đắn, chính xác. Vai nói và vai nghe Trong một cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn để tác động vào nhau.
Các nhân vật giao tiếp được phân thành vai nói và vai nghe. “Vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhận diễn ngôn, tức vai nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp 2 (speaker 2) [15, tr. Khi đối thoại trực tiếp, hai vai nói, nghe thường xuyên luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại. Trong ĐTNT, việc xác định vai nói, vai nghe có những điểm đặc thù, hoàn toàn phân biệt với đối thoại.
Khi nhân vật đưa ra một lời thoại hướng tới chính bản thân mình để trò chuyện, nó đồng thời đóng cả vai nói và vai nghe. Do đó, về bản chất, hiệu lực tác động của lời ĐTNT sẽ hướng vào chính vai nói, thay đổi nhận thức, tình cảm… của vai nói. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nội dung, hiệu lực hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT hướng đến một đối tượng hoàn toàn phân biệt với vai nói. Chẳng hạn, khi nhân vật Mại trong truyện ngắn cùng tên của NTTH thầm nói: “Chị xin lỗi cả hai em.
Chị chỉ là người đứng ngoài và đừng phải nghĩ gì về chị hết.” thì hành động xin lỗi này rõ ràng không phải hướng vào vai nghe của lời ĐTNT (Mại) mà hướng vào đối tượng khác (hai em). Nhưng trên thực tế, hai em không chịu tác động hiệu lực của hành động, vì họ không phải là người tiếp nhận lời. Với những trường hợp như vậy, hiệu lực của lời cũng chỉ thể hiện hiệu quả tác 26 động của nó ở chính vai nói: Mại sẽ cảm thấy đỡ ân hận hơn và có trách nhiệm phải làm những việc cần thiết để sửa lỗi. Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn 1.
Các khái niệm: độc thoại, độc thoại nội tâm và dòng ý thức 1. Khái niệm độc thoại (monologue) Độc thoại là khái niệm trước hết được sử dụng trong kịch - một loại hình nghệ thuật sân khấu. Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, độc thoại gọi là monologos, và được định nghĩa một cách đơn giản: lời nói của một người đơn độc (khi chỉ có một mình). Trong Từ điển sân khấu, tác giả Patrice Paris (1980) đã đưa ra khái niệm về độc thoại sân khấu (cụ thể là kịch).
Ông cho rằng: “Độc thoại là những lời nói của một nhân vật không trực tiếp hướng đến người đối thoại để nhận được câu trả lời” [129, tr. Với cách hiểu này, độc thoại được xác định tương đối rõ ràng trên hai mặt: hình thức và mục đích. Về hình thức, nó là lời do nhân vật nói ra, về mục đích, nó không hướng đến người đối thoại và không chờ đợi câu trả lời từ người đó. Việc xác định độc thoại như vậy đã ngầm đặt độc thoại trong mối tương quan với đối thoại.
Vì vậy, ngay sau phần định nghĩa, Patrice Paris chỉ rõ: “Lời độc thoại phân biệt với lời đối thoại ở sự vắng mặt của việc trao đổi bằng lời nói và ở chiều dài quan trọng của một trường thoại có thể tách rời ra trong bối cảnh liên quan đến sự xung đột và tranh cãi” [129, tr. Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (2002) cũng định nghĩa độc thoại dựa trên cái nhìn so sánh với đối thoại: “Khác với đối thoại, độc thoại là sự thể hiện lời nói trước hết hướng bản thân mình mà không tính đến phản ứng của người đối thoại” [117, tr. Đối với kịch, ta dễ dàng nhận ra độc thoại với sự xuất hiện những lời nói của nhân vật với chính mình. Những lời nói đó có thể được thực hiện khi nhân vật đang chỉ có một mình trên sân khấu và có thể cả trong khi nhân vật đang tiến hành đối thoại với người khác.
Ở trường hợp thứ hai, nhân vật tách mình khỏi bối cảnh cụ thể đang diễn ra để nói những điều mà nó không thể hoặc không muốn bộc lộ với các nhân vật khác. Tuy nhiên, dù ở trường hợp nào, khi biểu diễn, lời nói độc thoại của nhân vật trên sân 27 khấu phải đủ lớn về âm thanh, âm lượng dể khán giả có thể tiếp nhận, hiểu được nội dung của nó. Ngoài hình thức tự thể hiện độc thoại của chính nhân vật, người ta còn sử dụng hình thức nói vọng sau cánh gà để diễn tả những suy nghĩ bên trong khi một nhân vật được đặt vào tình huống độc thoại.