Chương 1. Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn: gồm các khái niệm liên quan đề tài, các lý thuyết chính được tiếp cận trong nghiên cứu đề tài; những quan điểm về giới và nữ quyền đầu thế kỷ XX; bối cảnh xã hội Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trình bày góc nhìn của nam giới về vấn đề phụ nữ trước khi Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Dương Tạp Chí ra đời; những tư tưởng mới của nam giới về các vấn đề phụ nữ trên Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Dương Tạp Chí cũng như những tranh luận của nam giới về vấn đề này. Trình bày về những ảnh hưởng từ góc nhìn của nam giới về vấn đề phụ nữ trên Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Dương Tạp Chí đến diễn đàn phụ nữ trên báo chí Quốc ngữ sau năm 1919.
Đồng thời, trình bày góc nhìn của nữ giới về vấn đề phụ nữ, thông qua các bài viết trên tờ Nữ Giới Chung và một số tờ báo Quốc ngữ sau năm 1919; đánh giá của trí thức Việt Nam về góc nhìn của nam giới về phụ nữ trên trên Đăng Cổ Tùng Báo đến Đông Dương Tạp Chí. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Giới và các khái niệm liên quan “giới” 1. Khái niệm “giới” và “giới tính” Khoa học về giới phát triển vào những năm thập niên 1960 - 1970 ở phương Tây.
Thuật ngữ “gender” cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu xã hội học vào những năm đầu thập niên 1970. Năm 1960, trong công trình nghiên cứu gồm 2 tập: Women’s Studies và Feminism, Susan B. Shaw đã có định nghĩa về “gender” (giới). Công trình này kết hợp cùng với nghiên cứu của Lee Janet (1954) có tiêu đề Women’s Voices, Feminist Version được nhà xuất bản McGraw Hill phát hành5.
Shaw giải thích khái niệm “gender” có thể được hiểu là “cách xã hội tạo ra những khuôn mẫu và đạt đến sự hiểu biết của con người về nữ tính và nam tính”; hoặc cũng có thể hiểu như là “cách xã hội tổ chức sự hiểu biết về sự khác nhau giữa xu hướng tình dục của nam giới và nữ giới” (2011, tr. Trong khi giới tính (sexes) là thuộc tính sinh học còn giới (gender) là sự thay đổi mang tính lịch sử và văn hóa trong cấu trúc xã hội. Từ góc độ xã hội học, Marshall định nghĩa: “Giới là một phạm trù khoa học xã hội bao gồm các mối quan hệ và tương quan về vai trò xã hội, hành vi ứng xử, giá trị, địa vị của nữ giới và nam giới trong một môi trường văn hóa, xã hội cụ thể” (Julia T Wood, 1993, tr. Còn Julia T Wood định nghĩa: “Giới tính là sự chỉ định dựa trên đặc điểm sinh học, trong khi giới là cấu trúc tâm lý và xã hội” (1993, tr.
Theo Julia T Wood, việc một cá nhân trở nên nữ tính (femininity) hay nam tính (masculinity) là kết quả của việc được tiếp nhận từ xã hội, qua các thế hệ và chịu ảnh hưởng bởi văn hóa. Những quan điểm xã hội về giới có thể thay đổi và những ý nghĩa về giới có thể được thể hiện khác nhau, trong những khu vực văn hóa khác nhau (1993, tr. Lý thuyết về phát triển giới và hành vi giới có thể được phân thành ba loại: tập trung vào đặc tính sinh học của giới, nhấn mạnh giao tiếp cá nhân và ảnh hưởng của văn hóa. Aihwa Ong và Michael G.
Peletz trong công trình nghiên cứu về vấn đề giới ở khu vực Đông Nam Á Bewitching Women, Pious Men nhận định giới là 5 Tài liệu học viên tham khảo là phiên bản tái bản lần thứ năm, 2011. 17 “một quá trình linh hoạt, liên tục, được đặc trưng bởi sự cạnh tranh, môi trường xung quanh và những thay đổi” (1995, tr. Có nghĩa rằng không phải đặc điểm sinh học mà chính là xã hội tác động, trong đó bao gồm cả những mối quan hệ quyền lực trong cơ chế xã hội từ phạm vi địa phương đến quốc gia, khu vực, toàn cầu. Castelli (2001) cũng cho rằng giới là “yếu tố cấu thành của các mối quan hệ xã hội dựa trên sự khác biệt được nhận thức bởi giới tính” và giới còn được biểu thị bởi mối quan hệ của sức mạnh; đồng thời cho rằng phạm trù “giới” nổi lên như một vấn đề ở hai khía cạnh: sự khác biệt và sức mạnh giữa nam giới và nữ giới.
Mary Crawford phân biệt rõ: giới (sexes) là “sự khác nhau về mặt sinh học trong thành phần gen, giải phẫu và chức năng sinh sản” còn giới (gender) là “những đặc điểm xã hội và văn hóa và những đặc điểm này được coi là phù hợp với nam giới và nữ giới” (2004, tr. Ở góc độ văn hóa học, Chris Barker định nghĩa: “Giới là sản phẩm của một phức hợp rộng, gồm các tập tục, phong tục phổ biến và những khuôn mẫu của một nền văn hóa đặc thù. Đặc trưng và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội được định hình, quy định bởi yếu tố văn hóa, xã hội” (2004, tr. Theo Chris Barker, giới là vấn đề của văn hóa hơn là tự nhiên.
“Nam tính và nữ tính là kết quả của quy định văn hóa đối với các hành vi được coi là phù hợp về mặt xã hội. Và gốc rễ cho sự khác biệt về giới trong những mối quan hệ xã hội, các nền văn hóa hoặc các diễn ngôn chính trị, thực tiễn về giới chính là sự phụ thuộc của phụ nữ (2004, tr. Theo Tuyên bố của Liên hiệp quốc về Nhân quyền, giới được hiểu là “đặc điểm, vị trí, vai trò và quyền lợi của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội nhằm hướng tới sự bình đẳng về luật pháp cũng như bình đẳng trong vị thế xã hội, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và đảm bảo trả lương công bằng” (được trích dẫn bởi Đăng Trường, 2014, tr. Theo Luật Bình đẳng giới (1946), giới là khái niệm chỉ “đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.
Lê Ngọc Hùng – Nguyễn Thị Mĩ Lộc (2000) tóm tắt những đặc điểm của giới: Một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính, không mang tính di truyền, bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm, tức là bị quy định bởi điều 18 kiện sống của cá nhân và xã hội; một phần có tính biến thiên, tức là có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là điều kiện xã hội. Như vậy, giới tính (sexes) được định nghĩa dựa trên đặc điểm sinh học của nam và nữ, còn giới (gender) được định nghĩa dựa trên cấu trúc xã hội. Khi đề cập đến khái niệm giới tính có nghĩa là đề cập đến một phạm trù của sinh học, còn khái niệm giới thuộc về phạm trù văn hóa. Hai khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quan niệm, phương pháp nghiên cứu và là đối tượng của lý thuyết nữ quyền.
Giới phức tạp hơn giới tính, giới bao hàm giới tính của đặc tính sinh học và giới tính văn hóa do xã hội quy định. Sự khác biệt về giới tính do đặc điểm sinh học quy định nhưng sự khác biệt về giới là do xã hội quy định. “Giới bao gồm không chỉ những sự khác nhau đã được xã hội xây dựng, quy định cho những kiểu người khác nhau mà còn là những giá trị liên quan đến sự khác nhau này” (Susan B. “Giới” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên, định nghĩa của Chris Barker là phù hợp với đề tài và hướng nghiên cứu của học viên nhất: “Giới là sản phẩm của một phức hợp rộng, gồm các tập tục, phong tục phổ biến và những khuôn mẫu của một nền văn hóa đặc thù.
Đặc trưng và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội được định hình, quy định bởi yếu tố văn hóa, xã hội” (Chris Barker, 2004, tr. Học viên lựa chọn định nghĩa này làm điểm tựa cho đề tài nghiên cứu Góc nhìn của nam giới về vấn đề phụ nữ trên Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Dương Tạp Chí. Theo đó, khía cạnh giới trong đề tài nghiên cứu được nhìn từ góc độ văn hóa: quan điểm, tư tưởng của nam giới đầu thế kỷ XX nhìn về những vấn đề phụ nữ. Những quan điểm này hình thành từ tư tưởng Nho giáo phong kiến và sự tiếp nhận tư tưởng mới từ văn minh phương Tây.
Thông qua góc nhìn giới, những vấn đề văn hóa-xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng được thể hiện trên hai tờ báo: vấn đề giáo dục, ứng xử, lối sống, trang phục, ngôn ngữ… 1. Các khái niệm liên quan “giới” Từ thuật ngữ giới, nhiều khái niệm liên quan đến “giới” cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa rõ ràng nhằm phục vụ cho nghiên cứu giới. Theo Từ điển Oxford về xã hội học (1998), ngoài “giới” còn có các khái niệm: Vai trò giới, Phân tách giới, Định kiến giới và Sự phân biệt đối xử giới. Theo định nghĩa này, vai trò 19 giới (gender role) là những nghĩa vụ và hành động mà văn hóa quy định cho mỗi giới.Whelehan phân tích khái niệm sự phân tách giới (gender segregation) và sự phân tách giới tính (sex segregation) xảy ra khi phụ nữ và nam giới bị đặt vào các vị trí tách biệt khác nhau, trong khi họ có thể cùng tham gia vào tổng thể các hoạt động nói chung.
Sự phân tách giới tại nơi làm việc vẫn tồn tại trong điều kiện có các công việc điển hình của nam và nữ - theo đó, người làm việc trong lĩnh vực của nữ giới thì sẽ bất lợi về kinh tế (theo Nguyễn Thị Minh, 2022, tr. Bàn về khái niệm “bình đẳng”, J.Whelehan định nghĩa đó là “trạng thái hoặc điều kiện giống nhau, đặc biệt là về địa vị xã hội hoặc các quyền pháp lý, chính trị” (Nguyễn Thị Minh, 2022, tr. Hai tác giả cũng cho rằng trong suốt quá trình lịch sử và ở hầu hết các xã hội trên thế giới, giới tính và giới chính là cơ sở của bất bình đẳng kéo dài. Mọi xã hội đều có xu hướng phân công lao động dựa trên vai trò nam giới.
Nam và nữ thường đảm nhận những nhóm công việc chuyên biệt khác nhau. Nam giới có địa vị xã hội cao hơn, có quyền lợi chính trị và pháp lý rộng hơn phụ nữ. Bình đẳng giới có nghĩa là nữ và nam có điều kiện và cơ hội như nhau để thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích từ sự nỗ lực của họ (theo Lê Ngọc Văn, 2006, tr. Bình đẳng giới cũng không phải là vấn đề riêng của phụ nữ mà còn cần có sự tham gia và xem xét ở cả hai giới.